Bốn thập kỷ nhìn lại, mỏ Bạch Hổ không chỉ là nơi khởi đầu dòng dầu thương mại ngoài khơi (vào ngày 26/6/1986), mà còn là biểu tượng của những quyết định chiến lược, của bản lĩnh khoa học – công nghệ và của một thế hệ người dầu khí đã đi từ không đến có trong hành trình chinh phục thềm lục địa.

Bốn thập kỷ nhìn lại, mỏ Bạch Hổ không chỉ là nơi khởi đầu dòng dầu thương mại ngoài khơi (vào ngày 26/6/1986), mà còn là biểu tượng của những quyết định chiến lược, của bản lĩnh khoa học – công nghệ và của một thế hệ người dầu khí đã đi từ không đến có trong hành trình chinh phục thềm lục địa.

Giai đoạn những năm 1980, nền kinh tế Việt Nam đứng trước muôn vàn khó khăn. Hậu quả chiến tranh còn nặng nề, đất nước bị bao vây cấm vận, thiếu hụt nguồn lực phát triển; đến cuối thập niên 1980, đầu những năm 1990, sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa tại Đông Âu và việc Liên Xô sụp đổ càng làm cho tình hình thêm phức tạp. Trong bối cảnh ấy, Việt Nam may mắn có hai nguồn lực quan trọng mang tính “cứu cánh”: lương thực và nhiên liệu.

Một mặt, ngành nông nghiệp có bước phát triển rõ nét, đưa Việt Nam từ chỗ còn nhiều khó khăn về lương thực từng bước đáp ứng nhu cầu trong nước và tham gia trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo trên thế giới; mặt khác, dầu thô được khai thác công nghiệp từ năm 1986, tạo nguồn ngoại tệ quý giá để phục vụ phát triển kinh tế và nhập khẩu xăng dầu cho nhu cầu trong nước.

Bốn mươi năm sau, nhìn lại dấu mốc ấy, mỏ Bạch Hổ hiện lên không chỉ bằng những con số về sản lượng, doanh thu hay đóng góp ngân sách. Bạch Hổ còn là một câu chuyện lớn về tầm nhìn phát triển, về sự táo bạo trong quyết sách, về hợp tác quốc tế Việt Nam – Liên Xô/Liên bang Nga, và đặc biệt là về sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ, kỹ sư, công nhân dầu khí Việt Nam.

Tuy nhiên, ý nghĩa của khai thác sớm không chỉ nằm ở việc rút ngắn thời gian đưa mỏ vào vận hành. Quan trọng hơn, quyết định ấy đã đáp ứng một yêu cầu cấp bách của đất nước lúc bấy giờ: cần nguồn ngoại tệ để phục hồi nền kinh tế đang kiệt quệ sau chiến tranh, trong bối cảnh lạm phát cao, bao vây cấm vận và đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn.

Năm 1986 cũng là năm Đại hội VI của Đảng khởi xướng công cuộc Đổi mới đất nước. Vì vậy, dòng dầu đầu tiên từ Bạch Hổ còn mang một ý nghĩa đặc biệt. Nó không chỉ bổ sung nguồn lực vật chất cho nền kinh tế, mà còn đem lại một nguồn động viên tinh thần to lớn: Việt Nam có thể làm chủ tài nguyên của mình, có thể xây dựng một ngành công nghiệp kỹ thuật cao trên biển, có thể biến những vùng thềm lục địa xa bờ thành không gian phát triển mới của đất nước.

Từ mỏ Bạch Hổ, Việt Nam không chỉ có dầu. Điều lớn hơn là có người, có đội ngũ, có năng lực tổ chức và vận hành một ngành công nghiệp hoàn chỉnh. Khi quyết định xây dựng giàn cố định, triển khai khai thác sớm thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào thuê thiết bị, chuyên gia nước ngoài, người Việt Nam đã trực tiếp tham gia vào gần như toàn bộ chuỗi công việc: khoan, xây lắp chân đế, lắp đặt giàn, thi công đường ống, vận hành khai thác, xử lý các tình huống ngoài khơi... Dưới sự hỗ trợ tận tình của các chuyên gia Liên Xô, lớp kỹ sư, công nhân dầu khí Việt Nam đầu tiên đã trưởng thành rất nhanh.

Chính từ môi trường thực tiễn ấy, Vietsovpetro trở thành một “trường học lớn” của đội ngũ dầu khí Việt Nam. Những con người bước ra từ Bạch Hổ sau này tỏa đi nhiều lĩnh vực: thăm dò khai thác, khoan, khí, xây lắp, dịch vụ kỹ thuật dầu khí, vận hành công trình biển… Họ góp phần hình thành hệ sinh thái dầu khí tương đối hoàn chỉnh, tạo nền móng cho sự phát triển của Petrovietnam trong nhiều thập kỷ tiếp theo.

Nếu tấn dầu đầu tiên năm 1986 là dấu mốc khai sinh ngành công nghiệp khai thác dầu khí biển Việt Nam, thì phát hiện dầu và khai thác thành công trong tầng đá móng granit nứt nẻ ở Bạch Hổ vào năm 1988 là bước ngoặt làm thay đổi căn bản nhận thức khoa học và triển vọng tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí ở Việt Nam, đồng thời đóng góp một dấu ấn đáng kể cho khoa học dầu khí thế giới.

Bạch Hổ từ đó được gọi là “kỳ quan đá móng”!

Ông Trần Hồi chia sẻ, kỷ niệm sâu sắc nhất của ông gắn với bước ngoặt này là năm 1987 khi khoan giếng thăm dò BH-6 mỏ Bạch Hổ. Trước đó, giếng khoan đã lấy được mẫu lõi từ tầng móng có dấu hiệu ngậm dầu. Đến ngày 11/5/1987, khi tiến hành thử vỉa tầng móng, giếng cho dòng dầu công nghiệp. Cũng chính từ phát hiện này, Vietsovpetro mới hiểu đầy đủ hơn giá trị thực sự của tầng móng.

Như ông Trần Hồi nhấn mạnh, họ đã “cầm tay chỉ việc”, đào tạo từ người thợ đến kỹ sư, từ khoan trên đất liền đến khai thác ngoài khơi; nếu không có sự giúp đỡ ấy, ngành Dầu khí Việt Nam khó có thể phát triển được như hôm nay!

Bốn mươi năm sau tấn dầu thô đầu tiên, Bạch Hổ vẫn nhắc nhớ ngành dầu khí Việt Nam, nay được mở rộng trong không gian ngành công nghiệp – năng lượng về một tinh thần không được phép mất đi: tinh thần tìm kiếm, khai phá và dám đi vào những vùng chưa có tiền lệ. Trong bối cảnh nhiều mỏ hiện hữu suy giảm sản lượng, tài nguyên dễ khai thác ngày càng ít, yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đặt ra cấp bách hơn, bài học từ mỏ Bạch Hổ càng có giá trị. Đó là phải tiếp tục đầu tư cho tìm kiếm, thăm dò, đánh giá trữ lượng; lấy khoa học – công nghệ làm chìa khóa; nuôi dưỡng đội ngũ chuyên gia đủ năng lực giải quyết những bài toán ngày càng phức tạp của thềm lục địa.

Bạch Hổ đã đi qua bốn thập kỷ không chỉ như một mỏ dầu lớn nhất nước, mà còn như một biểu tượng. Biểu tượng của dòng dầu đầu tiên trong những năm tháng đất nước gian khó. Biểu tượng của phát hiện dầu trong tầng đá móng – một kỳ tích làm thay đổi tương lai ngành Dầu khí Việt Nam, có đóng góp to lớn cho khoa học dầu khí thế giới.

Và hơn hết, đó là biểu tượng của niềm tin rằng, với tầm nhìn đúng, quyết tâm đủ lớn và sự bền bỉ của con người, những điều tưởng như không thể vẫn có thể được đánh thức từ sâu trong lòng đất, giữa trùng khơi!