Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định tầm nhìn dài hạn về một nền kinh tế độc lập, tự cường, chủ động hội nhập sâu rộng, phát triển nhanh nhưng bền vững. Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp và khó lường, Việt Nam đã và đang hội tụ nhiều đ

Ổn định vĩ mô - bệ phóng của tăng tốc

Năm 2026 - năm đầu trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030, đất nước bước vào một thời khắc có ý nghĩa đặc biệt. Sau chặng đường 2021-2025 nhiều biến động, Việt Nam không chỉ giữ vững được ổn định vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, mà còn từng bước tạo dựng những nền tảng quan trọng cho giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh đó, mục tiêu tăng trưởng hai chữ số không chỉ mang tính khát vọng đơn thuần, mà đang được đặt trên một hệ quy chiếu thực tiễn - nơi những thành quả đã tích lũy, cùng các cải cách đang được thúc đẩy, trở thành bệ phóng cho một quỹ đạo phát triển cao và bền vững hơn.

Nhìn lại chặng đường 2021 - 2025, có thể thấy đây là giai đoạn đặc biệt thử thách đối với nền kinh tế. Đại dịch COVID-19, đứt gãy chuỗi cung ứng, xung đột địa chính trị, thuế quan và xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng, cùng những cú sốc từ thị trường tài chính toàn cầu đã tạo nên những “cơn gió ngược” chưa từng có tiền lệ. Tuy nhiên, chính trong bối cảnh đó, nền kinh tế Việt Nam đã thể hiện rõ khả năng chống chịu, thích ứng và phục hồi.

Sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, toàn dân, toàn quân và cộng đồng doanh nghiệp đã giúp tình hình kinh tế - xã hội năm 2025 ước đạt được mục tiêu tổng quát và nhiều kết quả quan trọng, hoàn thành và vượt 15/15 chỉ tiêu chủ yếu. Trong đó, tăng trưởng GDP cả năm 2025 ước đạt 8,02%, thuộc nhóm dẫn đầu thế giới. Bình quân giai đoạn 2021-2025, tăng trưởng đạt khoảng 6,3%, cao hơn giai đoạn trước; lạm phát duy trì dưới 3,6% (riêng năm 2025 ở mức 3,31%). Các cân đối lớn được bảo đảm, nợ công và bội chi ngân sách duy trì trong ngưỡng an toàn; cán cân thương mại duy trì thặng dư 10 năm liên tiếp; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng cả về quy mô và chất lượng.

Quy mô GDP năm 2025 ước đạt 514 tỷ USD, tăng 5 bậc, vươn lên vị trí thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD, gấp 1,4 lần năm 2020, đưa Việt Nam vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao - hoàn thành một trong những cột mốc lớn mà Đại hội XIII của Đảng đã đặt ra.

Nhìn lại chặng đường 40 năm Đổi mới, từ một nền kinh tế khan hiếm hàng hóa với lạm phát có thời điểm vượt 700% cuối thập niên 1980 (lạm phát lên tới 774% cuối năm 1986) đến một nền kinh tế có quy mô hơn 510 tỷ USD hiện nay, những thành quả đạt được càng cho thấy “độ bền” của nền tảng kinh tế vĩ mô đã được củng cố rõ rệt, đồng thời phản ánh sự trưởng thành về năng lực điều hành và thích ứng của nền kinh tế.

Trong các phát biểu chỉ đạo, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu phải giữ vững ổn định vĩ mô, coi đây là điều kiện tiên quyết cho phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tới. Theo đó, cần nhận thức đầy đủ mối quan hệ biện chứng giữa ổn định và phát triển; tăng trưởng cao nhưng phải trên nền tảng ổn định, quyết tâm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn. Phát triển nhanh nhưng phải bền vững, gắn với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống nhân dân.

Chuyển đổi, xác lập mô hình tăng trưởng mới

Từ nền tảng ổn định đã được tạo dựng, vấn đề cốt lõi đặt ra là làm thế nào để biến khát vọng tăng trưởng hai chữ số thành hiện thực, mà không đánh đổi bằng những rủi ro vĩ mô hay sự phát triển thiếu bền vững. Câu trả lời nằm ở việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu.

Trong nhiều thập niên, tăng trưởng của Việt Nam chủ yếu dựa vào mở rộng đầu tư, khai thác lợi thế lao động dồi dào và hội nhập thương mại. Mô hình này đã mang lại nhiều thành tựu nhưng cũng ngày càng bộc lộ những giới hạn về năng suất, hiệu quả sử dụng vốn và sức cạnh tranh dài hạn. Chính vì vậy, mục tiêu tăng trưởng hai chữ số trong giai đoạn 2026 - 2030 không thể tiếp tục dựa trên cách làm cũ, mà đòi hỏi một cấu trúc động lực mới.

Thủ tướng Phạm Minh Chính, trong nhiều chỉ đạo, đã khẳng định yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng dựa nhiều hơn vào khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Thông điệp này cho thấy tăng trưởng hai chữ số không chỉ được đo bằng tốc độ, mà còn bằng chất lượng và hiệu quả của tăng trưởng - tăng trưởng dựa trên năng suất, giá trị gia tăng cao, khả năng làm chủ công nghệ và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Trên thực tế, nhiều yếu tố nền tảng cho sự chuyển đổi này đã và đang được hình thành trong giai đoạn vừa qua. Chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trên cả khu vực công và khu vực tư; hạ tầng số được đầu tư đồng bộ; hệ sinh thái đổi mới sáng tạo từng bước được củng cố; thứ hạng của Việt Nam trên các bảng xếp hạng đổi mới sáng tạo toàn cầu được cải thiện liên tục. Trung ương đang nghiên cứu, chuẩn bị những quyết sách lớn nhằm chuyển đổi mô hình phát triển đất nước, xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là các vấn đề mang tính chiến lược lâu dài, đòi hỏi sự chuẩn bị bài bản, thận trọng để có thể triển khai hiệu quả ngay khi được ban hành.

Cùng với đó, đầu tư công được xác định là một trong những trụ cột quan trọng để tạo không gian phát triển mới cho nền kinh tế. Nhiệm kỳ 2021- 2025, tổng số vốn đầu tư công lớn hơn khi tăng gần 55% (đạt khoảng 3,4 triệu tỷ đồng) so với nhiệm kỳ trước, song đồng thời được bố trí tập trung hơn cho khoảng 4.600 dự án (giảm từ khoảng 11.000 dự án, tương đương giảm gần 60%). Đến hết năm 2025, cả nước đã hoàn thành và đưa vào khai thác khoảng 3.345 km đường bộ cao tốc và hơn 1.700 km đường bộ ven biển, vượt mục tiêu Đại hội XIII đề ra. Hàng loạt công trình hạ tầng quy mô lớn được khởi công và đưa vào sử dụng đã giúp kết nối các vùng kinh tế trọng điểm, rút ngắn thời gian vận chuyển và giảm chi phí logistics, qua đó mở ra dư địa tăng trưởng mới cho các địa phương.

Điểm đáng chú ý là trong quá trình phát triển hạ tầng, vai trò của khu vực kinh tế tư nhân ngày càng được khẳng định rõ nét. Tỷ trọng vốn tư nhân tham gia vào các dự án lớn tăng lên cho thấy niềm tin của doanh nghiệp đối với triển vọng phát triển dài hạn của nền kinh tế, đồng thời tạo thêm động lực để huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực xã hội.

Song song với hạ tầng vật chất, hạ tầng thể chế đang được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng. Những nỗ lực cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện khung khổ pháp lý, tháo gỡ các “điểm nghẽn” về đầu tư, đất đai, xây dựng, tài chính… được xem là chìa khóa để giải phóng sức sản xuất và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế.

Khát vọng đã rõ, động lực đã có: hiện thực hóa bằng hiệu quả

Tuy vậy, để tăng trưởng hai chữ số trở thành hiện thực, những thách thức và hạn chế đang tồn tại cần được nhận diện đầy đủ và từng bước hóa giải. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, song rủi ro vẫn tiềm ẩn trong bối cảnh dư địa chính sách tài khóa – tiền tệ dần thu hẹp. Tăng trưởng vẫn dựa nhiều vào mở rộng đầu vào, đặc biệt là đầu tư và khai thác đất đai, trong khi năng suất lao động, năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và hàm lượng công nghệ cải thiện chậm. Giải ngân vốn đầu tư công chậm, hiệu quả chưa cao (thể hiện qua hệ số sử dụng vốn - ICOR - ở mức gần 6, trong khi các nước công nghiệp hóa thành công chỉ khoảng 3). Còn thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các ngành mũi nhọn. Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở một số nơi còn lúng túng, thiếu đồng bộ, phát sinh độ trễ trong điều hành, gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp. Phân cấp, phân quyền chưa đi đôi với phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cán bộ, tạo khoảng cách giữa thẩm quyền được giao và khả năng thực thi trên thực tế. Hệ thống pháp luật còn chồng chéo, thiếu đồng bộ, cần tiếp tục được rà soát, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Những rào cản, thách thức này đã được lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ chỉ rõ, với yêu cầu nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng thực trạng để có giải pháp căn cơ và dài hạn. Tổng Bí thư Tô Lâm cảnh báo rằng việc chậm tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế và vận hành thị trường có nguy cơ làm suy giảm động lực đầu tư dài hạn và kìm hãm sự phục hồi bền vững của nền kinh tế; đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ tập trung tháo gỡ các bất cập của thể chế để khơi thông nguồn lực đang bị ách tắc, chuyển mạnh và thực chất từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”.

Nhìn tổng thể, mục tiêu tăng trưởng hai chữ số trong giai đoạn 2026-2030 không phải là một bước nhảy vọt thiếu chuẩn bị, mà là kết quả của một quá trình tích lũy và chuyển hóa. Nền tảng ổn định vĩ mô được củng cố trong giai đoạn 2021-2025; mô hình tăng trưởng đang từng bước được đổi mới; các trụ cột về hạ tầng, thể chế và nhân lực được định hình rõ nét hơn; niềm tin của doanh nghiệp và xã hội được củng cố.

Quan trọng hơn, khát vọng phát triển đang được khơi dậy mạnh mẽ trong toàn xã hội. Khát vọng ấy không chỉ đến từ các mục tiêu tăng trưởng được đặt ra trong các văn kiện, mà còn từ mong muốn vươn lên của mỗi doanh nghiệp, mỗi địa phương, mỗi người dân trong một thế giới nhiều biến động, song cũng mở ra không ít dư địa và cơ hội.

Đỗ Lê (thoibaonganhang.vn)