Từ tuổi 17 hoạt động giữa bom đạn đến Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng, bà Trần Thị Hường vẫn giữ trọn lời thề son sắt "cống hiến cho Đảng tới hơi thở cuối cùng".
Đảng viên Trần Thị Hường (thứ nhất từ trái sang) cùng các đảng viên lão thành tỉnh Ninh Bình nhận Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng. (Ảnh: Ngọc Ánh)
Đảng viên Trần Thị Hường (thứ nhất từ trái sang) cùng các đảng viên lão thành tỉnh Ninh Bình nhận Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng. (Ảnh: Ngọc Ánh)

Học cảm tình Đảng giữa tiếng bom

Ở tuổi 95, bà Trần Thị Hường (đảng viên Chi bộ Tổ dân phố Thống Nhất 1, Đảng bộ phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình) vinh dự đón nhận Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng trong dịp cả nước kỷ niệm Quốc khánh 2/9. Tấm Huy hiệu trên ngực áo hôm nay đưa người đảng viên lão thành trở về ký ức của cô gái 17 tuổi năm nào - khi lời tuyên thệ dưới lá cờ Đảng cũng là lời cam kết sẽ cống hiến cho Đảng, cho Nhân dân “tới hơi thở cuối cùng”.

Khi mới 15 tuổi, bà Trần Thị Hường bắt đầu được học lớp cảm tình Đảng. Đó là lớp học rất đặc biệt, bởi những người tham gia không ngồi trong một ngôi trường đúng nghĩa, cũng chẳng có bảng đen, bàn ghế đầy đủ. Giữa một vùng quê đang chìm trong chiến tranh, lớp học được tổ chức trong những căn nhà dân.

Muốn đến lớp, cô gái trẻ phải đi bộ hàng chục kilomet, mang theo gạo, củi và tìm nhà dân để ở nhờ. Những bài học về lịch sử Đảng, về lý tưởng cách mạng được tiếp nhận trong điều kiện thiếu thốn và luôn tiềm ẩn hiểm nguy.

Có những buổi, tiếng máy bay hoặc tiếng bom bất ngờ vọng tới, bài học lập tức dừng lại. Tất cả học viên chạy xuống hầm trú ẩn, chờ tiếng bom lắng xuống rồi lại trở lên, tiếp tục học.

“Chúng tôi học lịch sử Đảng, ai cũng thuộc làu làu như trong lòng bàn tay”, bà Hường mở đầu câu chuyện.

Bà Trần Thị Hường bồi hồi xem lại những hình ảnh thời trẻ, gợi nhớ những năm tháng hoạt động cách mạng xông pha giữa bom đạn.
Bà Trần Thị Hường bồi hồi xem lại những hình ảnh thời trẻ, gợi nhớ những năm tháng hoạt động cách mạng xông pha giữa bom đạn.

Nhưng lớp học cảm tình Đảng chỉ là điểm khởi đầu. Trong hai năm thử thách, cô gái 16 tuổi được giao gác các cuộc họp chi bộ, đào hầm, làm liên lạc, chuyển giấy tờ. Khi ấy, ba xã Lục Hợp, Thụy Hòa và Tân Dân mới chỉ có một chi bộ, mọi hoạt động đều diễn ra trong sự truy lùng gắt gao của quân địch.

Quê hương bà cũng liên tục chìm trong khói lửa, có nơi bị đốt trụi tới 9 lần, một trận bom cướp đi sinh mạng 48 người. Hai năm ấy, cô gái trẻ không chỉ học cách hoạt động bí mật mà còn học cách giữ vững niềm tin giữa cuộc chiến mà chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể phải trả giá bằng mạng sống.

Ở tuổi 17, bà Trần Thị Hường chính thức được kết nạp vào Đảng.

Buổi lễ diễn ra trong một căn nhà vách đất đơn sơ. Không có hội trường, không có những nghi lễ cầu kỳ. Nhưng giữa hoàn cảnh chiến tranh, những thứ thiêng liêng nhất vẫn được đặt ở vị trí trang trọng: lá cờ Tổ quốc, lá cờ Đảng và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dưới những lá cờ ấy, cô gái 17 tuổi đứng nghiêm, giơ tay tuyên thệ.

“Tôi thề tuyệt đối trung thành, giữ bí mật của tổ chức, quyết tâm phấn đấu, cống hiến cho Đảng, cho Nhân dân tới hơi thở cuối cùng”, bà Hường kể lại.

Khoảng một tuần sau khi trở thành đảng viên chính thức, bà được bầu vào chi ủy xã, trở thành nữ chi ủy viên đầu tiên của địa phương. Từ đây, cuộc đời của người đảng viên trẻ bước sang một chặng đường khốc liệt hơn, nơi những cuộc họp bí mật, những chuyến đi trong đêm và những lần chạy trốn khỏi vòng vây quân địch trở thành một phần của cuộc sống.

Và có những lần, bà chỉ cách cái chết trong gang tấc.

Khi cái chết chỉ cách một tấm màn

Một lần, trong lúc Trần Thị Hường đang họp với hai đồng chí để bàn việc xây dựng tổ chức Đảng, tin báo quân địch sắp đi lùng bất ngờ truyền đến.

Cuộc họp lập tức tan. Hai đồng chí vừa chạy ra tới cổng thì bị địch bắt. Còn bà Hường biết một lối tắt phía sau nhà, liền lao qua bờ tường, chạy sang nhà một người dân bên cạnh.

Trong lúc nguy cấp, một người dân nhận bà làm con nuôi, đồng thời chuẩn bị sẵn giấy tờ để che giấu thân phận. Nhưng quân địch đã lần theo tới nơi.

Chúng bắt người dân này cùng 3 người con trai ra ngoài. Trong nhà lúc ấy chỉ còn một cụ già và cô gái đang bị truy lùng.

“Cụ già nhanh trí kéo màn xuống. Tôi lập tức chui vào bên trong, nằm bất động, chăn phủ kín người. Bên ngoài, cụ vẫn bình thản ngồi đấm bóp, rồi nói với quân địch rằng đó là con gái trong nhà đang bị bệnh, phải kiêng giữ”, bà Hường nhớ lại.

Khi đó, quân địch đã đứng ngay trước màn, nhưng chúng không phát hiện ra.

Tưởng đã thoát, bà Hường chưa kịp thở phào thì một tình huống nguy hiểm hơn xuất hiện: quân địch quyết định ở lại chính căn nhà này một ngày để nghỉ ngơi.

Suốt những giờ dài đằng đẵng ấy, bà phải nằm im trong màn, ngay trong căn nhà có quân địch đang ăn uống, nghỉ ngơi bên ngoài. Chỉ một tiếng động bất thường, một cử động nhỏ hay một lần chúng kiểm tra kỹ hơn, tất cả có thể kết thúc.

“Đó là lúc tôi cảm thấy mình gần cái chết nhất”, bà Hường nói.

Chờ đến đêm, khi quân địch tập trung ăn cơm, bà mới đánh liều thoát ra ngoài. Không dám chạy về nhà, cũng không biết phải đi đâu, người nữ cán bộ trẻ lặng lẽ tìm đến một bãi tha ma và ngồi đó một mình cho tới sáng.

Giữa đêm tối, cô gái 17 tuổi ngồi một mình giữa những nấm mồ, nghe ngóng từng tiếng động, chờ trời sáng để biết mình còn sống.

Nhưng lần thoát chết trong căn nhà vách đất ấy không phải lần cuối bà Hường đối mặt với “lưỡi hái tử thần”.

Có những lần, để tránh ánh mắt quân địch, bà phải thay đổi thân phận ngay giữa đường. Khi thì giả làm người đi đóng thóc, tay cầm vó và ống cân; lúc gặp quân địch đang bắt dân chặt tre, những người dân trong làng lập tức đưa cho bà một chiếc liềm, bảo bà giả làm người đi cắt rạ.

Có lần, bà đang bế một đứa trẻ thì quân địch ập tới. Người dân vội nói bà chỉ là người đưa con về nhà. Giữa khoảnh khắc mà bản thân đang bị truy lùng, điều bà lo sợ nhất lại không phải mạng sống của mình, mà là đứa trẻ đang nằm trong vòng tay.

“Lúc ấy tôi chỉ sợ chúng phát hiện ra thì chết cả con nhà người ta. Mình thà chết đi còn hơn để con nhà người ta chết”, bà Hường kể lại.

Phía sau những lần thoát hiểm ấy là sự chở che của những người dân bình thường. Họ không có vũ khí trong tay, cũng không biết liệu mình có thể sống sót nếu bị phát hiện, nhưng vẫn tìm cách giấu cán bộ, dựng lên những câu chuyện để đánh lạc hướng quân địch.

Để có ngày hôm nay, bà Hường luôn khắc ghi sự chở che của những người dân bình dị trong những năm tháng chiến tranh. (Ảnh: Ngọc Ánh)
Để có ngày hôm nay, bà Hường luôn khắc ghi sự chở che của những người dân bình dị trong những năm tháng chiến tranh. (Ảnh: Ngọc Ánh)

Nhưng mỗi lần thoát chết lại khiến bà càng thấm thía cái giá mà những người đồng chí của mình đã phải trả. Bà Hường vẫn nhớ chị Thuần, Bí thư Phụ nữ huyện Giao Thủy, khi bị địch bắt, chị bị tra khảo nhưng nhất quyết không khai báo.

“Khi đó quân địch đào một cái hố, chúng muốn chôn sống chị...”, người đảng viên lão thành bật khóc.

Trước khi đất phủ lên người, người nữ cán bộ vẫn dồn hết sức hô vang: “Hồ Chủ tịch muôn năm! Đả đảo lũ bán nước!”. Rồi đất được xúc xuống. Tiếng hô của chị Thuần cũng dần nhỏ lại.

“Chúng tổ chức canh gác nghiêm ngặt, không để đồng đội có cơ hội tìm được thi thể chị. Một nữ cán bộ phụ nữ khác, chị Năm, cũng bị địch bắt và bắn chết”.

Dù tận mắt chứng kiến những mất mát, đau thương ấy nhưng điều đó không khiến bà Hường lùi bước. Trái lại, giữa vòng vây ngày càng siết chặt, bà tiếp tục bám cơ sở, hoạt động trong những điều kiện khắc nghiệt hơn.

Năm 1950, bà Hường là Thường vụ Hội Phụ nữ huyện Giao Thủy, đồng thời làm Bí thư Chi bộ xã Bình Hòa. Những ngày tháng ấy, cuộc sống của bà gần như được chia thành hai nửa: ban đêm hoạt động cách mạng, ban ngày tìm cách sống sót.

Đêm xuống, bà mới rời nơi ẩn náu, lặng lẽ đi từ đầu huyện tới cuối huyện truyền tin, gây dựng cơ sở. Nhưng con đường của người cán bộ hoạt động bí mật không phải đường làng. Bà phải lội tắt qua những cánh đồng, vượt sông, men theo những lối mà quân địch khó phát hiện. Khi trời sáng, bà lại biến mất.

“Khi thì nằm trong một căn hầm, khi khác lại trốn trong cót thóc, kể cả là chuồng trâu, xó bếp. Bất cứ nơi nào có thể tránh được ánh mắt quân địch đều có thể trở thành chỗ trú thân. Có hôm tôi nằm co ro trong những nơi như thế, mặc cho muỗi đốt đến sốt rét ác tính, có lúc tưởng không thể qua khỏi”, bà Hường kể.

Năm ấy đê vỡ, nước tràn vào làng mạc gây mất mùa. Trong những căn nhà dân nơi cán bộ tìm đến nương náu, bữa cơm chỉ là rau muống nấu với cám lợn.

Trong lúc cái đói, bệnh tật và bom đạn bủa vây, quân địch vẫn ráo riết săn lùng người nữ cán bộ trẻ. Chúng treo thưởng 2.000 đồng Đông Dương cho bất cứ ai bắt được bà.

Một lần, bà thực sự rơi vào tay chúng. May mắn, một ông trùm đạo và một xã trưởng yêu nước đứng ra nhận bà là người làm thuê. Nhờ sự che chở ấy, bà được cứu sống.

Thoát khỏi tay quân địch thêm một lần, bà Hường lại trở về với công việc.

Những trận chiến khốc liệt

Năm 1954, Trần Thị Hường chuyển sang công tác trong quân đội, tại Phòng Chính trị Tỉnh đội Nam Định, phụ trách công tác địch vận. Bà phối hợp với bộ đội địa phương và chủ lực trước, sau các trận đánh ở Đông Biên (Hải Hậu) và Đại Đồng (Giao Thủy).

Nhưng ký ức ám ảnh nhất với bà lại là những lần đưa thương binh thoát khỏi vòng vây.

Có trận, thương binh vừa được đưa về Giao Long, quân địch đã càn tới. Đơn vị phải tiếp tục đưa họ ra trại muối, rồi men theo đê, cuối cùng lẩn vào bãi vẹt ven biển. Những cành vẹt được bẻ xuống, ghép thành nơi đặt cáng. Giữa bãi vẹt, những người lính bị thương nằm bên mép biển, xung quanh là tiếng sóng, tiếng rên đau và những giọt nước mắt của đồng đội.

“Chúng tôi ở đó 3 ngày 2 đêm mà không có một giọt nước nào bỏ vào mồm. Một người lính trong số đó vừa cưới vợ được 6 ngày. Không thuốc men, vết thương nhiễm trùng, đồng chí lên cơn co giật rồi trút hơi thở cuối cùng ngay trên tay tôi”, người đảng viên 95 tuổi rớm nước mắt.

Sau năm 1954, bà Hường tiếp tục công tác qua nhiều vị trí, từ ngành nông nghiệp đến Xí nghiệp Đồ hộp xuất khẩu Hà Nam Ninh, trước khi nghỉ hưu năm 1987. Nghỉ hưu nhưng bà không nghỉ việc, tiếp tục tham gia công tác xã hội ở địa phương, từng làm tổ trưởng Đảng suốt 15 năm và dìu dắt hàng chục quần chúng ưu tú vào Đảng.

Dù ở chiến trường hay đời thường, khi còn là cán bộ trẻ hay đã nghỉ hưu, bà Trần Thị Hường vẫn giữ một điều không thay đổi: trách nhiệm của người đảng viên.

Ở tuổi 95, bà Hường vẫn giữ trọn niềm tin với Đảng, nhắc nhở con cháu trân trọng những giá trị được đánh đổi bằng cả một thế hệ.
Ở tuổi 95, bà Hường vẫn giữ trọn niềm tin với Đảng, nhắc nhở con cháu trân trọng những giá trị được đánh đổi bằng cả một thế hệ.

Nhìn lại chặng đường ấy, bà Hường không nhắc nhiều về những lần mình thoát chết, mà nói về sự đổi thay của cuộc sống, đặc biệt là vị thế của người phụ nữ. Với bà, cách mạng và Đảng đã mở ra cơ hội để phụ nữ được học tập, được tham gia công tác và được cống hiến.

“Đảng đã giải phóng cho phụ nữ nói chung, trong đó có tôi. Đảng mang lại cơm ăn, áo ấm cho mọi người”, bà Hường nói.

Sáng 27/8, trong lễ trao Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng tại trụ sở Đảng ủy phường Nam Định, giữa những đảng viên lão thành, bà Trần Thị Hường, ở tuổi 95, vẫn dõng dạc cất tiếng hát Quốc ca dưới lá cờ Đảng.

Từ cô gái 17 tuổi từng giơ tay tuyên thệ trong căn nhà vách đất giữa những năm tháng chiến tranh, đến người đảng viên lão thành hôm nay, thời gian có thể lấy đi sức khỏe, nhưng không làm phai nhạt lời thề năm ấy, lời thề son sắt theo Đảng quang vinh suốt đời.

Minh Quang (vtcnews.vn)