Theo các chuyên gia, đây là mục tiêu đầy tham vọng nhưng hoàn toàn có cơ sở, đòi hỏi Việt Nam phải cải cách mạnh về thể chế và môi trường đầu tư.

Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ

Trong Nghị quyết 10 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), Bộ Chính trị xác định FDI là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia. Khu vực này không chỉ góp phần bổ sung vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển mà còn là kênh tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mở rộng thị trường.

Việt Nam sẽ chuyển mạnh tư duy chủ yếu thu hút vốn sang phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia. Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài sẽ thay đổi từ theo địa giới hành chính sang theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng làm tiêu chí chủ yếu.

Đến 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sẽ phát triển hiệu quả, bền vững, gắn kết chặt chẽ với kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân. FDI dự kiến chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và đóng góp khoảng 30% GDP, đồng thời góp phần xây dựng thị trường vốn hiện đại, minh bạch, an toàn, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.

PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng - Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Đại học Kinh tế Quốc dân) - đánh giá, đây là chủ trương đúng đắn trong thời đại mở cửa và hội nhập, thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ về tư duy của Việt Nam. Đồng thời là cơ hội để Việt Nam phát triển thành trung tâm tài chính và khoa học công nghệ trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 10 xác định FDI là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia. (Ảnh minh họa)
Nghị quyết 10 xác định FDI là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia. (Ảnh minh họa)

Ông Lạng phân tích: Trước khi Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành năm 1987 và có hiệu lực từ năm 1988, Việt Nam chưa có khái niệm “thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”. Nhưng hiện tại, khu vực FDI đã đóng góp lớn vào tăng trưởng xuất khẩu, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao với sự hiện diện của nhiều tập đoàn đa quốc gia như Samsung, Foxconn hay Intel…

Đặc biệt, Việt Nam đã đặt ra những mục tiêu to lớn trong kỷ nguyên phát triển mới, mà một trong những mục tiêu là phải đạt tốc độ tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026 - 2030. Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo được coi là chìa khóa cho sự thịnh vượng. Việc huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển, trong đó có FDI là cần thiết. Vì vậy, thúc đẩy hợp tác đầu tư nước ngoài trong giai đoạn tới là rất quan trọng, nhất là trong những lĩnh vực sẽ tạo ra động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế, như công nghệ tiên phong, năng lượng, hạ tầng, logistics, R&D…

Theo PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng, với sự định hướng của Nghị quyết 10, khu vực FDI sẽ không chỉ bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn mà còn mang theo công nghệ, phương thức quản trị hiện đại, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và mở rộng thị trường.

“Trong thời gian tới, trọng tâm sẽ không còn là lượng vốn đăng ký hay số dự án mà là khả năng tạo giá trị gia tăng cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước. Khi đó, khu vực FDI không chỉ đóng góp lớn hơn vào GDP mà còn trở thành động lực nâng cấp mô hình tăng trưởng và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong dài hạn”, ông Lạng nêu ý kiến.

Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 tăng mạnh so với cùng kỳ năm ngoái. (Nguồn: Cục Thống kê)
Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 tăng mạnh so với cùng kỳ năm ngoái. (Nguồn: Cục Thống kê)

Chuyên gia kinh tế TS. Bùi Kiến Thành cũng cho rằng mục tiêu khu vực FDI đóng góp 30% GDP đến năm 2045 hoàn toàn có cơ sở nếu Việt Nam tận dụng tốt lợi thế về vị trí địa kinh tế và môi trường đầu tư.

Theo ông, Việt Nam đang trở thành điểm kết nối giữa Đông Bắc Á, Đông Nam Á và Nam Á, nằm trên các tuyến hàng hải và hàng không quan trọng của khu vực.

“Từ Việt Nam chỉ mất khoảng 4 giờ bay đến Tokyo hoặc Mumbai. Hơn một nửa lượng hàng hóa thương mại quốc tế đi qua Biển Đông. Đây là những lợi thế rất lớn để Việt Nam thu hút các dòng vốn đầu tư chất lượng cao trong nhiều thập niên tới”, TS. Bùi Kiến Thành nhận định.

Với tư duy đổi mới về chiến lược hút vốn FDI cho đến năm 2045 được nêu trong Nghị quyết 10, trong khoảng 10-20 năm tới, Việt Nam có cơ hội trở thành một trong những điểm tăng trưởng nổi bật của khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

FDI hiện tạo việc làm cho khoảng 1,5 - 2 triệu lao động trực tiếp cùng hàng triệu lao động gián tiếp. Nếu quy mô đầu tư tiếp tục tăng trong thời gian tới, số lượng việc làm và thu nhập của người lao động sẽ tiếp tục được cải thiện.

Quan trọng hơn, dòng vốn FDI sẽ thúc đẩy hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với sự tham gia của các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ, giúp nâng cao năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam.

Bên cạnh đó, sự phát triển của khu vực FDI cũng sẽ tạo động lực cho thị trường phát triển theo hướng hiện đại hơn, từ thị trường chứng khoán đến khoa học - công nghệ và các trung tâm tài chính quốc tế.

Trong thời gian tới, trọng tâm sẽ không còn là lượng vốn đăng ký hay số dự án mà là khả năng tạo giá trị gia tăng cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước.

PGS.TS Nguyễn Hữu Lạng - Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Đại học Kinh tế Quốc dân)

Chuyên gia kinh tế, PGS.TS. Đinh Trọng Thịnh nhấn mạnh, Nghị quyết 10 mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút dòng vốn đầu tư thế hệ mới. Và nếu thành công, Việt Nam sẽ không chỉ là một trong những trung tâm sản xuất hàng đầu của châu Á mà còn trở thành điểm đến hàng đầu về đổi mới sáng tạo.

“Thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc giúp Việt Nam lựa chọn được các doanh nghiệp, dự án, ngành ngành nghề chất lượng cao với năng lực sản xuất vượt trội, góp sức cho quá trình tăng trưởng của nền kinh tế”, ông Thịnh nói.

Theo chuyên gia, nếu Việt Nam thực hiện tốt tinh thần Nghị quyết và triển khai cải cách thể chế đủ mạnh, giai đoạn 2026 - 2035 có thể chứng kiến vốn FDI đăng ký đạt 45 - 60 tỷ USD/năm, với vốn FDI thực hiện đạt 35 - 45 tỷ USD/năm. Bước sang giai đoạn 2036 - 2045, nếu Việt Nam đạt được vị thế quốc gia thu nhập cao, vốn FDI thực hiện có thể đạt 50 - 70 tỷ USD mỗi năm, đưa tổng vốn cả giai đoạn lên 500 - 700 tỷ USD. Tổng cộng cả 20 năm, Việt Nam có khả năng thu hút 850 - 1.100 tỷ USD vốn FDI thực hiện, quy mô lớn nhất trong lịch sử phát triển kinh tế của đất nước.

Cạnh tranh bằng chất lượng, công nghệ

Chuyên gia Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng (trường Đại học Nguyễn Trãi), cho rằng, với sự định hướng của Nghị quyết 10, Việt Nam đang đứng trước cơ hội hiếm có để bứt phá. Việt Nam có thể chuyển từ vị thế “tham gia chuỗi giá trị toàn cầu” sang “đồng kiến tạo chuỗi giá trị toàn cầu”. Không chỉ là nơi tiếp nhận công nghệ, Việt Nam có thể cùng các tập đoàn quốc tế nghiên cứu, thiết kế, phát triển sản phẩm, xây dựng tiêu chuẩn mới và đóng góp vào các giải pháp công nghệ phục vụ sự phát triển bền vững của khu vực và thế giới.

Đây chính là bước phát triển cao hơn của hội nhập kinh tế quốc tế, khi giá trị đóng góp của Việt Nam không chỉ được đo bằng quy mô xuất khẩu hay lượng vốn FDI thu hút được, mà còn bằng hàm lượng tri thức, công nghệ và sáng tạo mà Việt Nam mang lại cho nền kinh tế toàn cầu.

Tuy nhiên, cơ hội chỉ có thể chuyển hóa thành lợi thế nếu chủ động nâng cấp năng lực nội tại và xây dựng hệ sinh thái phát triển đủ sức hấp thụ những dòng vốn FDI chất lượng cao.

Vì thế theo ông Huy, để hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết 10, trước hết cần khẩn trương chuyển mạnh từ tư duy thu hút FDI bằng ưu đãi sang tư duy lựa chọn và đồng hành cùng những nhà đầu tư chiến lược.

“Thay vì ưu tiên quy mô vốn đăng ký, chính sách cần hướng tới những dự án có hàm lượng công nghệ cao, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), cam kết chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và tạo giá trị gia tăng lớn cho nền kinh tế.

Những lĩnh vực như AI, vi mạch bán dẫn, công nghệ sinh học, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, robot, vật liệu mới, năng lượng xanh, sản xuất thông minh và kinh tế số cần trở thành các ưu tiên chiến lược để hình thành những cực tăng trưởng mới”, ông Huy nói.

Chuyên gia nhấn mạnh Việt Nam nên ưu tiên những dòng vốn FDI công nghệ cao. (Ảnh minh họa)
Chuyên gia nhấn mạnh Việt Nam nên ưu tiên những dòng vốn FDI công nghệ cao. (Ảnh minh họa)

Mà với những dòng vốn công nghệ cao này, sức hấp dẫn lâu dài của Việt Nam không còn nằm ở chi phí lao động thấp hay ưu đãi thuế, mà phải ở chất lượng nguồn nhân lực. Vì vậy, đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo cần được xem là một trong những giải pháp chiến lược quan trọng nhất để xây dựng lực lượng lao động có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Cùng với đó là chiến lược phát triển đội ngũ công nhân kỹ thuật, kỹ sư, nhà khoa học, chuyên gia công nghệ và nhân tài quốc gia. Khi sở hữu nguồn nhân lực đạt chuẩn quốc tế, Việt Nam sẽ tạo dựng được niềm tin để các tập đoàn hàng đầu thế giới đặt các trung tâm R&D, trung tâm thiết kế chip, trung tâm dữ liệu, phòng thí nghiệm AI và các cơ sở sản xuất công nghệ cao tại Việt Nam.

“Đây cũng là điều kiện để đất nước từng bước chuyển từ vai trò ”công xưởng sản xuất“ sang ”trung tâm nghiên cứu, thiết kế và đổi mới sáng tạo“ của khu vực”, ông Huy nêu ý kiến.

Ông Huy cũng cho rằng, một nhiệm vụ chiến lược khác là nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong giai đoạn mới, doanh nghiệp không thể chỉ cạnh tranh bằng giá mà phải cạnh tranh bằng chất lượng, công nghệ, quản trị và uy tín. Doanh nghiệp trong nước cũng sẽ không còn chỉ là nhà cung cấp dịch vụ đơn giản mà có điều kiện trở thành đối tác chiến lược của các tập đoàn đa quốc gia.

Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động đổi mới quản trị theo chuẩn quốc tế, minh bạch tài chính, nâng cao năng lực quản trị rủi ro, đẩy mạnh chuyển đổi số, đầu tư đổi mới công nghệ, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, môi trường, lao động và quản trị doanh nghiệp. Chỉ khi đạt được những chuẩn mực này, doanh nghiệp Việt Nam mới đủ điều kiện trở thành đối tác chiến lược của các tập đoàn đa quốc gia, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu và tiếp nhận hiệu quả sự lan tỏa về công nghệ, quản trị cũng như tri thức từ khu vực FDI.

Thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc giúp chúng ta lựa chọn được các doanh nghiệp, dự án, ngành ngành nghề chất lượng cao với năng lực sản xuất vượt trội, góp sức cho quá trình tăng trưởng của nền kinh tế

PGS.TS. Đinh Trọng Thịnh

Trong khi đó, ông Takuya Sahashi, Phó Chủ tịch Tập đoàn Mitsubishi Corporation tại Việt Nam, khuyến nghị Việt Nam cần hỗ trợ có trọng tâm đối với các doanh nghiệp trong nước có tiềm năng cao thay vì chỉ chú trọng đến số lượng. Việc hoàn thiện các cơ chế nhằm nhận diện và giới thiệu các nhà cung ứng trong nước có năng lực là hết sức quan trọng. Các chương trình hỗ trợ cần được thiết kế đơn giản hơn, linh hoạt hơn và dễ tiếp cận hơn để doanh nghiệp có thể sử dụng khi cần thiết.

Cùng với đó là phát triển các ngành công nghiệp thượng nguồn. Việc phát triển có chiến lược các ngành vật liệu và linh kiện là yếu tố thiết yếu nhằm gia tăng giá trị gia tăng trong nước và nâng cao khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng. Đây cũng là nền tảng quan trọng để thu hút các dòng vốn FDI chất lượng cao và công nghệ cao.

Một nhiệm vụ chiến lược nữa được các chuyên gia cùng chỉ ra, đó là Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng minh bạch, ổn định, có khả năng dự báo cao; phát triển đồng bộ hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng sạch, hạ tầng số, trung tâm dữ liệu, khu công nghệ cao và các trung tâm đổi mới sáng tạo. Việc tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian cấp phép và tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án công nghệ cao sẽ là những yếu tố rất quan trọng giúp Việt Nam “lấy lòng” nguồn vốn FDI chất lượng trên thế giới.

PHẠM DUY (vtcnews.vn)