Nhiều năm theo sát cố Thiếu tướng Trần Hải Phụng, ông Phạm Duy Lâm từng bơi dò đường, vượt sông, chống càn để đưa vị Tư lệnh an toàn qua vòng vây.

Ở tuổi 76, ông Phạm Duy Lâm vẫn nhớ rành rọt những năm tháng theo sát và bảo vệ cố Thiếu tướng Trần Hải Phụng, Tư lệnh chiến trường Sài Gòn - Gia Định. Những địa danh, dòng sông, cây cầu và cả những lần chạy đua giữa vòng vây địch vẫn hiện lên rõ nét trong ký ức người cựu binh sau hơn nửa thế kỷ.

Những lần chống càn, bảo vệ tư lệnh vượt sinh tử của cận vệ biệt động Sài Gòn - 1
Ông Phạm Duy Lâm, cận vệ cố Thiếu tướng Trần Hải Phụng.

Cuối năm 1968, khi vừa qua tuổi 18 không lâu, ông Lâm được điều về bộ phận phục vụ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định Trần Hải Phụng. Từ tháng 12 năm ấy, ông chính thức nhận nhiệm vụ bảo vệ trực tiếp vị Tư lệnh.

Trong những năm sau đó, công việc của người cận vệ trẻ không chỉ là mang súng đi bên cạnh thủ trưởng. Hơn nửa thế kỷ sau, ông Phạm Duy Lâm vẫn nhớ một điều được xem là nguyên tắc của mình khi ấy: Mình có thể không trở về, nhưng người được giao bảo vệ phải an toàn.

Bảo vệ thủ trưởng là trên hết

Phạm Duy Lâm nhập ngũ tháng 2/1968. Chín tháng sau, ông được bổ sung về bộ phận của Thiếu tướng Trần Hải Phụng, đến tháng 12/1968, chàng lính trẻ chính thức nhận nhiệm vụ bảo vệ trực tiếp vị Tư lệnh.

“Ngày đó tôi được phân công bảo vệ chú Hải Phụng ngày đêm, theo sát chú. Chú đi đâu, bất kỳ xa hay gần thì nhiệm vụ của tôi là đưa chú đi và bảo đảm an toàn rồi đưa chú về”, ông Lâm nhớ lại.

Trước đó, ông là trinh sát đặc công, được huấn luyện về trinh sát, chiến đấu và có khả năng bơi lội tốt. Khi hoạt động ở chiến trường miền Nam, nơi hành trình thường xuyên bị chia cắt bởi sông rạch, những kỹ năng ấy trở thành lợi thế để ông được lựa chọn vào nhóm thường xuyên theo sát Tư lệnh.

Thiếu tướng Trần Hải Phụng.
Thiếu tướng Trần Hải Phụng.

Từ cuối năm 1968 và trong những năm tiếp theo, hai thầy trò gần như liên tục di chuyển.

Trong trí nhớ của ông Lâm vẫn còn một chuỗi địa danh: Phú An, Cẩm Sơn, Long Khánh, Long Trung, Càng Long, Vũng Liêm, Mỏ Cày... Có nơi chỉ dừng trong thời gian ngắn, có nơi trở thành điểm trú quân, làm việc trước khi tiếp tục chuyển sang địa bàn khác.

Những chuyến đi không có lịch trình cố định như thời bình. Nơi ở, địa điểm họp, đường đi có thể phải thay đổi tùy tình hình càn quét của đối phương.

Ở những nơi trú quân, việc tổ chức sinh hoạt cũng được tính toán để tránh gây chú ý. Theo lời ông Lâm, bà Nguyễn Thị Phương - khi ấy làm thư ký cho Thiếu tướng Trần Hải Phụng - có thể xuất hiện, giao tiếp với người dân như một người hoạt động bình thường ở bên ngoài. Bộ phận trực tiếp phục vụ và bảo vệ Tư lệnh lại hạn chế lộ diện.

“Cô Phương được phân công ra ngoài giao tiếp công khai với bà con, còn bộ phận phục vụ và tôi chủ yếu ở bên trong. Chú đi họp thì tôi đưa đi, họp xong lại tìm đường đưa chú về”, ông kể.

Một trong những việc thường xuyên của Thiếu tướng Trần Hải Phụng khi ấy là tham dự các cuộc họp để nắm tình hình Sài Gòn và chỉ đạo hoạt động của lực lượng. Trong ký ức ông Lâm, có những cuộc họp với sự hiện diện của nhiều cán bộ lãnh đạo như đồng chí Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Trần Bạch Đằng.

Nhưng người cận vệ trẻ hiếm khi biết sâu nội dung bên trong, phần việc của ông nằm ở con đường dẫn đến cuộc họp.

Những lần chống càn, bảo vệ tư lệnh vượt sinh tử của cận vệ biệt động Sài Gòn - 3
Ông Phạm Duy Lâm từng bơi dò đường, vượt sông, chống càn để đưa vị Tư lệnh an toàn qua vòng vây.

Trước khi Tư lệnh di chuyển, ông phải quan sát khu vực, dò đường, tính lối đi và những khả năng có thể xảy ra. Đưa được thủ trưởng tới nơi chưa phải đã xong. Trong thời gian cuộc họp diễn ra, ông tiếp tục cảnh giới; khi kết thúc, lại phải tìm cách đưa người rời khỏi khu vực an toàn.

Có những lần đường bộ không thể đi, cả nhóm phải men theo sông rạch. Nơi không có xuồng, người biết bơi phải xuống nước trước.

Ông Lâm thường là một trong những người xuống đầu tiên. Ông bơi sang bờ bên kia, kiểm tra khu vực, quan sát xem có dấu hiệu bất thường hay không. Khi xác định có thể đi được, ông lại bơi trở về để cùng anh em đưa Tư lệnh qua. Có những đoạn như vậy phải lặp lại nhiều lần trong một chuyến đi.

“Để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho thủ trưởng, nhiều chỗ tôi phải bơi trước, xem xung quanh thế nào, rồi mới quay lại đưa chú đi”, ông nói.

Những việc như vậy diễn ra đến mức người cận vệ trẻ khi ấy không coi đó là điều đặc biệt. Ông chỉ nghĩ đơn giản rằng mình được giao đưa thủ trưởng đi thì trước hết phải biết con đường phía trước có an toàn hay không.

Nhưng không phải chuyến đi nào cũng kịp kết thúc trước khi tiếng súng vang lên.

Vượt những trận càn

Năm 1969, trong một lần hoạt động tại khu vực Càng Long - Vũng Liêm (Vĩnh Long ngày nay), một địa điểm họp bị lộ. Đối phương tổ chức bao vây, càn quét. Từ nhiệm vụ cảnh giới, dẫn đường, nhóm bảo vệ lập tức phải chuyển sang chiến đấu, vừa chống càn vừa tìm cách đưa cán bộ rời khỏi vòng vây.

Những lần chống càn, bảo vệ tư lệnh vượt sinh tử của cận vệ biệt động Sài Gòn - 4
Thiếu tướng Trần Hải Phụng (thứ 3 từ trái qua) hồi công tác ở Cuba.

Ông Lâm nhớ lực lượng bảo vệ lúc ấy rất mỏng. Vòng ngoài có thời điểm chỉ khoảng một tiểu đội, bên trong là vài người trực tiếp phục vụ, bảo vệ cán bộ. Khi địa điểm bị phát hiện, không có một lực lượng đông đảo nào chờ sẵn để mở đường.

“Trận đó quân ta thiệt hại lớn, anh em chúng tôi chủ yếu chống càn. Nhưng cực nhất vẫn là qua sông nước, phải tìm cách đưa cán bộ từ khu vực này sang khu vực khác”, ông kể.

Ở những vùng sông rạch chằng chịt, con nước đôi khi quyết định một chuyến đi có thực hiện được hay không.

Ông Lâm nhớ nhất một lần tại Mỏ Cày, Bến Tre. Đúng lúc đối phương tổ chức càn, chân Thiếu tướng Trần Hải Phụng bị thương và sưng lớn, người gần như mê man. Bình thường, vượt qua những đoạn đường lầy lội, sông nước đã khó, lúc này ông gần như không thể tự di chuyển như mọi người.

Nhóm bảo vệ phải tìm cách đưa Tư lệnh đi ngay.

Không có cáng chuyên dụng, anh em lấy những vật liệu có sẵn tại chỗ làm một chiếc cáng tạm. Chân bị thương của ông Phụng được quấn nylon thật kỹ để hạn chế tiếp xúc với nước.

“Cáng không có sẵn, anh em chúng tôi kiếm cây chuối làm cáng để đưa chú đi. Chân chú lúc đó được chúng tôi dùng nylon bọc cho khỏi nước”, ông Lâm kể.

Nhưng làm được cáng vẫn chưa thể qua sông, họ phải chờ nước. Trong khi phía sau là nguy cơ cuộc càn ập tới bất cứ lúc nào, nhóm bảo vệ theo dõi mực nước, đợi đến lúc dòng chảy thuận lợi hơn mới dám đưa người xuống.

Khoảng 11h trưa, nước đứng, những người lính bắt đầu đưa chiếc cáng xuống sông.

Hơn nửa thế kỷ sau, ông Lâm không nhớ mình đã mất bao lâu để vượt qua đoạn nước ấy. Ông chỉ nhớ khi đó mọi người không nghĩ nhiều đến chuyện khác.

Những lần chống càn, bảo vệ tư lệnh vượt sinh tử của cận vệ biệt động Sài Gòn - 5
Huân chương Độc lập hạng Nhì của Thiếu tướng Trần Hải Phụng.

“Những tình huống cấp bách như thế, trong đầu chúng tôi chỉ có một suy nghĩ duy nhất là tìm mọi cách đưa chú đến nơi an toàn, ông nói.

Có những lần khác, tình thế còn sát hơn. Ông nhớ một trận càn tại khu vực Cầu Ông Tạo, khi nguy hiểm ập tới, việc đầu tiên của nhóm bảo vệ là đưa Thiếu tướng Trần Hải Phụng xuống hầm bí mật. Khi người cần bảo vệ đã ở vị trí an toàn, Lâm và những người còn lại quay ra ngoài cầm súng.

“Chúng tôi luôn tự nhắc nhở nhiệm vụ của mỗi người, như tôi là bảo vệ thủ trưởng thì bằng mọi giá thủ trưởng phải an toàn. Trận đó, sau khi đưa chú xuống được, tôi quay trở lại với anh em, cầm súng chiến đấu”, ông kể.

Câu chuyện được ông nói bằng giọng khá bình thản. Nhưng khi chúng tôi hỏi liệu lúc ấy có nghĩ đến khả năng mình phải chết thay cho người được bảo vệ, người cựu binh không mất nhiều thời gian để trả lời. Với ông, đó vốn là một phần của nhiệm vụ.

“Điều đó là bình thường, chúng tôi đã luôn chuẩn bị cho những tình huống như vậy. Nhiệm vụ của chúng tôi là bảo vệ thủ trưởng, thì bằng mọi giá - dù có hy sinh tính mạng thì cũng phải bảo vệ thủ trưởng đến cùng”, ông nói.

Trong những năm tháng ấy, người bảo vệ không chỉ đứng bên cạnh Tư lệnh với một khẩu súng. Ông phải là người đi trước khi chưa biết phía trước có gì, là người xuống sông trước khi chưa chắc bờ bên kia an toàn, là người ở lại bên ngoài khi thủ trưởng đã xuống hầm và cũng là một người lính trực tiếp chiến đấu nếu vòng vây khép lại.

Phạm Duy Lâm đã theo Thiếu tướng Trần Hải Phụng qua nhiều chuyến đi như thế. Điều ông nhớ sau hơn nửa thế kỷ, tuy nhiên, không chỉ là những lần mình đã bảo vệ vị Tư lệnh, mà là những lần chính người được bảo vệ lại lo cho những người lính đi bên cạnh mình.

Trong cuộc trò chuyện, ông Lâm gọi Thiếu tướng Trần Hải Phụng bằng một cách xưng hô đã theo mình từ thời chiến: “Chú Hai Phụng”.

Những lần chống càn, bảo vệ tư lệnh vượt sinh tử của cận vệ biệt động Sài Gòn - 6
Tủ huân chương, bằng khen của cố Thiếu tướng Trần Hải Phụng - vị tướng đứng sau những trận đánh rung chuyển Sài Gòn.

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, cách gọi ấy vẫn không thay đổi. Nhắc về vị Tư lệnh, ông không dành nhiều lời để kể về chức vụ hay những cuộc họp lớn. Những điều còn ở lại trong trí nhớ người cận vệ lại là cách ông Phụng đối xử với những người lính bên cạnh mình.

“Chú không nói nhiều, ít nói nhưng rất tình cảm và gần gũi với anh em. Trong thời gian được làm cận vệ cho chú, tôi đã học hỏi được rất nhiều điều”, ông Lâm nói.

Trong hoàn cảnh thiếu thốn của chiến trường, vị Tư lệnh sinh hoạt gần như cùng điều kiện với anh em. Khi hành quân hoặc gặp càn, ông cũng quan tâm đến sự an toàn của những người bảo vệ, phục vụ bên cạnh mình.

Đó là điều khiến người lính trẻ khi ấy vừa làm nhiệm vụ, vừa dần hình thành một tình cảm khác với người chỉ huy.

Với ông Lâm, khoảng cách giữa Tư lệnh và người cận vệ không nằm ở chuyện một người được bảo vệ còn người kia phải chấp nhận nguy hiểm. Họ cùng đi trên những con đường ấy, cùng qua những dòng sông ấy và nhiều lần cùng ở trong một vòng càn. Chỉ khác rằng khi nguy hiểm đến, người lính bảo vệ phải bước lên trước.

Thiếu tướng Trần Hải Phụng (1925-1997) tên khai sinh Trần Lương, quê Hà Tĩnh, là một trong những cán bộ quân sự chủ chốt gắn bó lâu năm với chiến trường Sài Gòn - Gia Định.

Từ năm 1961, ông trở lại miền Nam, tham gia Ban Thường vụ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định, phụ trách quân sự, sau đó lần lượt giữ các cương vị Quyền Tư lệnh, Tham mưu trưởng, Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định.

Trên cương vị Tư lệnh, ông có vai trò quan trọng trong xây dựng lực lượng vũ trang đô thị, củng cố và tổ chức lực lượng Biệt động Sài Gòn. Ông gây dựng mạng lưới cơ sở bí mật, đưa vũ khí vào nội đô, xây dựng hầm chứa vũ khí và nơi ém quân, hình thành thế trận ngay giữa địa bàn đối phương kiểm soát.

Trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, ông giữ cương vị Tư lệnh Phân khu 6 - phân khu nội đô, đồng thời tham gia Bộ Tư lệnh Tiền phương Nam, trực tiếp tham gia tổ chức, chỉ huy chiến trường nội thành. Thế trận được chuẩn bị trong nhiều năm là nền tảng để lực lượng Biệt động tiến công hàng loạt mục tiêu trọng yếu giữa trung tâm Sài Gòn.

THY HUỆ (vtcnews.vn)