Chuyên gia nhận định nếu cho rằng Việt Nam hoàn toàn an toàn hay không có động đất lớn là một góc nhìn phiến diện, cực kỳ nguy hiểm về mặt quản trị rủi ro thiên tai.

Từ 30/7 đến 9/8, Cao Bằng liên tiếp ghi nhận 5 trận động đất, trong đó trận mạnh 3,6 độ richter khiến nhà cửa rung lắc, người dân hoang mang.

Những rung chấn này chưa gây thiệt hại nghiêm trọng. Nhưng nhìn ra thế giới, những trận động đất lớn xảy ra thời gian gần đây cho thấy ranh giới giữa một cơn rung lắc và thảm họa có thể rất mong manh.

Vậy Việt Nam đang nằm ở đâu trên bản đồ địa chấn? Những đứt gãy nào tiềm ẩn nguy cơ tạo ra động đất mạnh? Khi không thể dự báo chính xác thời điểm mặt đất rung chuyển, chúng ta cần chuẩn bị gì để giảm thiểu thiệt hại?

Trả lời phóng viên Báo Điện tử VTC News, PGS.TS Nguyễn Hồng Phương, chuyên gia địa chấn học, Viện Các Khoa học Trái đất, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, chỉ ra những “điểm nóng” địa chấn, mức độ rủi ro và khả năng ứng phó của Việt Nam.

PGS.TS Nguyễn Hồng Phương chia sẻ tại một hội nghị quốc tế về động đất. (Ảnh: NVCC)
PGS.TS Nguyễn Hồng Phương chia sẻ tại một hội nghị quốc tế về động đất. (Ảnh: NVCC)

Đứt gãy “ngủ sâu” có thực sự an toàn?

- Thưa ông, liệu việc nhìn nhận Việt Nam là quốc gia “ít động đất”, trong bối cảnh thế giới liên tiếp chứng kiến những thảm họa động đất, có thể khiến chúng ta chủ quan trước hiểm họa vẫn âm thầm tồn tại dưới lòng đất?

Việt Nam luôn tồn tại nguy cơ động đất và chúng ta cần phải có những nghiên cứu cũng như sự chuẩn bị trên toàn lãnh thổ về vấn đề này. Để hiểu đúng về mức độ an toàn hay nguy hiểm, chúng ta phải phân tích vị trí địa chính trị - địa chất của Việt Nam trong bức tranh kiến tạo mảng toàn cầu.

Về mặt địa chấn học, toàn bộ lãnh thổ Việt Nam nằm gọn trong lòng mảng Á - Âu (Eurasian Plate). Mảng này liên tục chịu tác động ép chèn từ hai mảng kiến tạo cực lớn xung quanh là mảng Ấn Độ - Australia ở phía Tây và Tây Nam đang dịch chuyển về phía Bắc với tốc độ khoảng 4-5 cm/năm, đâm sầm vào mảng Á - Âu (tạo nên dãy Himalaya) và mảng Thái Bình Dương ở phía Đông đang hút chìm xuống dưới mảng Á - Âu.

Do nằm xa các ranh giới mảng (nơi diễn ra sự hút chìm hay va chạm trực diện giữa các mảng đại dương và lục địa), Việt Nam hoàn toàn không phải đối mặt với các trận siêu động đất (Mega-thrust earthquakes) có cường độ từ 8,0 đến 9,5 độ richter - vốn là “đặc sản” thảm họa của Nhật Bản, Indonesia, Chile hay Philippines.

Tuy nhiên, “nằm trong lòng mảng” không có nghĩa là tĩnh lặng. Lực ép cưỡng bức từ va chạm mảng Ấn Độ - Á Âu đã truyền vào nội địa, xé rách mảng Á - Âu và tạo ra một hệ thống đứt gãy nội mảng (Intraplate faults) vô cùng phức tạp tại Việt Nam. Các đứt gãy này cắt qua vỏ Trái Đất, âm thầm tích tụ ứng suất kiến tạo qua hàng trăm, hàng nghìn năm.

Do đó, nếu cho rằng Việt Nam hoàn toàn an toàn hay không có động đất lớn là một góc nhìn phiến diện và cực kỳ nguy hiểm về mặt quản trị rủi ro thiên tai. Động đất ở Việt Nam có tần suất thấp hơn vùng ranh giới mảng, nhưng khi bùng phát nó vẫn mang sức tàn phá khủng khiếp.

Bản đồ địa chấn kiến tạo lãnh thổ và thềm lục địa Việt Nam minh họa phân bố chấn tâm động đất ghi nhận được và các đứt gãy có khả năng sinh chấn. (Nguồn: Nguyễn Hồng Phương)
Bản đồ địa chấn kiến tạo lãnh thổ và thềm lục địa Việt Nam minh họa phân bố chấn tâm động đất ghi nhận được và các đứt gãy có khả năng sinh chấn. (Nguồn: Nguyễn Hồng Phương)

- Một đứt gãy có thể im lặng hàng chục, hàng trăm năm, thậm chí lâu hơn, khiến con người gần như không cảm nhận được sự tồn tại của nó. Nhưng sự im lặng ấy có thực sự đồng nghĩa với an toàn?

Đây là vấn đề rất khó bởi khoa học hiện đại chưa thể xác định chính xác khi nào một đứt gãy sẽ “thức giấc” và gây ra động đất mạnh. Nhưng tất cả những đứt gãy đã xác định có khả năng sinh chấn đều cần được tính đến trong quy hoạch và phát triển kinh tế - xã hội.

Đặc thù của động đất nội mảng tại Việt Nam là chu kỳ lặp lại rất dài. Nếu như ở Nhật Bản, một đứt gãy có thể tích tụ đủ năng lượng để gây động đất mạnh sau mỗi 50-100 năm thì ở Việt Nam, chu kỳ tích tụ để gây ra trận động đất từ 6,5-6,8 độ richter có thể kéo dài từ 300 năm đến hơn 1.000 năm.

Hiện tại, các đứt gãy lớn ở Việt Nam (Sông Hồng, Điện Biên - Lai Châu, Sông Mã) đều đang nằm trong chu kỳ tích tụ năng lượng kiến tạo. Trận động đất tại Tuần Giáo xảy ra năm 1983 mới chỉ cách đây hơn 40 năm - tức là một khoảnh khắc rất ngắn so với chu kỳ hàng trăm năm của địa chất.

Điều nguy hiểm nằm ở chỗ trong suốt giai đoạn tích tụ kéo dài hàng trăm năm, bề mặt đất hoàn toàn yên bình dễ tạo tâm lý chủ quan cực kỳ lớn. Nhưng bên dưới sâu 10-20 km, đá vỏ Trái Đất đang liên tục bị biến dạng dẻo và dồn nén ứng suất.

Khi độ bền của khối đá bị vượt quá ngưỡng giới hạn chịu cắt, đứt gãy sẽ đứt gãy gián đoạn đột ngột, trượt đi hàng mét chỉ trong vài giây và giải phóng toàn bộ năng lượng dồn nén dưới dạng sóng địa chấn.

Nơi nguy hiểm nhất chưa chắc đáng sợ nhất

- Tây Bắc được xác định là vùng có độ nguy hiểm động đất cao nhất cả nước, từng xảy ra hai trận động đất mạnh nhất được ghi nhận nhưng mức độ rủi ro lại là 0. Vậy điều gì quyết định một trận động đất trở thành thảm họa, thưa ông?

Nguy hiểm động đất và rủi ro động đất là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau.

pgs nguyen hong phuong (1).jpg
pgs nguyen hong phuong (1).jpg

Động đất chỉ trở thành thảm họa khi nó xảy ra tại nơi có con người và tài sản sinh sống mà hạ tầng ở đó không đủ khả năng chống chịu.

PGS.TS Nguyễn Hồng Phương

Chúng ta có thể hiểu, nguy hiểm động đất là khả năng xảy ra rung chấn mạnh tại một vùng địa lý do hoạt động đứt gãy.

Tây Bắc là vùng có độ nguy hiểm động đất cao nhất cả nước vì nằm trên các đứt gãy lịch sử hoạt động mạnh (như đứt gãy sông Mã, Điện Biên - Lai Châu).

Còn rủi ro động đất là mức độ thiệt hại tính bằng mạng người, tài sản và cơ sở hạ tầng khi động đất xảy ra.

Do đó, một trận động đất dù có độ chấn động rất lớn nhưng xảy ra ở khu vực mật độ dân số bằng 0, không có công trình xây dựng hay cơ sở hạ tầng (như vùng núi cao hẻo lánh ở Tây Bắc) thì mức độ thiệt hại hay rủi ro cũng chỉ bằng 0.

Trận động đất sẽ biến thành thảm họa khi nó xảy ra tại nơi tập trung đông dân cư, các trung tâm kinh tế - chính trị hoặc các đô thị lớn và chất lượng công trình xây dựng kém, không có khả năng kháng chấn cũng như kịch bản ứng phó, công tác cứu hộ cứu nạn và nhận thức cộng đồng còn hạn chế.

Tóm lại, động đất chỉ trở thành thảm họa khi nó xảy ra tại nơi có con người và tài sản sinh sống mà hạ tầng ở đó không đủ khả năng chống chịu.

Vùng Tây Bắc có nguy hiểm cao nhất nhưng rủi ro thấp vì mật độ dân số và hạ tầng thấp; ngược lại, các đô thị lớn dù nguy hiểm thấp hơn nhưng rủi ro thảm họa lại rất cao nếu xảy ra rung chấn.

Những trận động đất lớn từng xảy ra tại một số khu vực ở Việt Nam. (Ảnh minh hoạ AI)
Những trận động đất lớn từng xảy ra tại một số khu vực ở Việt Nam. (Ảnh minh hoạ AI)

- Ông có thể phân tích rõ hơn về những thảm họa có thể xảy ra sau một trận động đất? Từ cú rung chấn ban đầu, những rủi ro nào có thể tiếp tục nối dài và tạo thành thảm họa?

Trong khoa học địa chất và quản lý rủi ro thiên tai, tác động của động đất được chia thành rủi ro trực tiếp và chuỗi rủi ro thứ cấp (tác động dây chuyền). Chính chuỗi rủi ro thứ cấp này mới là nguyên nhân tàn phá tồi tệ nhất và biến một đợt rung chấn thành thảm họa thảm khốc.

Khi động đất kích hoạt, các hiểm họa kéo theo gồm cháy nổ lan rộng, hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới điện, viễn thông bị sập toàn bộ, gây tê liệt công tác cứu hộ và đời sống người dân. Hiện tượng “hóa lỏng đất” tại các vùng đất cát ẩm hoặc nền đất yếu, rung lắc mạnh làm đất mất khả năng chịu lực, biến thành một chất lỏng bùn, nuốt chửng móng của các tòa nhà kiên cố.

Đối với các khu vực miền núi hoặc nơi có hệ thống hồ chứa thủy điện, chuỗi rủi ro thứ cấp lại càng trở nên nguy hiểm bởi động đất làm mất ổn định các sườn dốc miền núi, gây ra hàng loạt vụ sạt lở đất quy mô lớn, có thể lấp phẳng các bản làng.

Đất đá sạt lở cũng có thể chặn ngang các dòng sông, tạo thành các hồ chứa tự nhiên tạm thời. Khi nước tích đủ lớn, đê đất tự nhiên này vỡ ra sẽ tạo thành trận lũ quét thảm họa dội xuống hạ lưu.

Do đó, động đất chỉ là “mồi lửa” đầu tiên còn thảm họa thực sự nằm ở chuỗi phản ứng dây chuyền gồm: rung lắc; sạt lở; hiện tượng hóa lỏng; sự cố hồ đập/cháy nổ và tê liệt cứu hộ. Việc đánh giá rủi ro động đất vì vậy luôn phải tính đến các kịch bản thứ cấp này chứ không chỉ dừng lại ở độ rung đập của mặt đất.

- Việt Nam nằm gần các khu vực có hoạt động địa chấn mạnh như: Bắc Lào, Thái Lan, Myanmar. Người dân ở các đô thị lớn đôi khi cảm nhận rất rõ rung lắc từ một trận động đất xảy ra cách xa hàng trăm, thậm chí hàng nghìn km. Liệu những rung lắc đó có đáng lo?

Cảm giác nhà rung khi có động đất xa là hiện tượng vật lý hoàn toàn bình thường do hiện tượng cộng hưởng ở các tầng cao. Người dân cần bình tĩnh, không nên đánh đồng cảm giác chao đảo này với nguy cơ sập nhà, tránh gây ra sự hoảng loạn không cần thiết.

Chúng ta cần phân biệt rất rõ giữa cảm giác rung lắc (hiệu ứng sóng đi xa) và khả năng gây phá hủy công trình thực tế.

Việc người dân ở các tòa nhà cao tầng tại Hà Nội hay TP.HCM cảm nhận được lắc lư từ các trận động đất tận Bắc Lào, Thái Lan hay Myanmar là hoàn toàn có thật, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc công trình sắp sập hay gặp nguy hiểm lớn.

Hiện tượng này xuất phát từ hai đặc tính vật lý đó là tác động của sóng chu kỳ dài, khi một trận động đất mạnh xảy ra ở xa (hàng trăm đến hàng nghìn km), các sóng địa chấn tần số cao (gây xóc, nứt vỡ ngay tại tâm chấn) sẽ bị triệt tiêu dần trên đường truyền. Chỉ còn lại các sóng chu kỳ dài (tần số thấp) lan truyền đi rất xa.

Các tòa nhà cao tầng có tần số dao động riêng rất thấp, vô tình trùng hoặc gần trùng với tần số của các sóng chu kỳ dài truyền từ xa đến. Khi có sự cộng hưởng, tòa nhà sẽ dao động uốn cong lắc lư qua lại. Người ở tầng càng cao thì biên độ lắc lư càng lớn, dẫn đến cảm giác chao đảo, chóng mặt, đèn chùm hay quạt trần đung đưa rất mạnh, dễ gây hoảng loạn.

Hầu hết các tòa nhà cao tầng hiện đại được thiết kế theo tiêu chuẩn xây dựng đều có độ dẻo và khả năng chịu lực va đập ngang nhất định. Dao động lắc lư này thực chất là cơ chế xả năng lượng tự nhiên của tòa nhà chứ không đủ lực để gây nứt gãy hay sập đổ kết cấu bê tông cốt thép.

Rủi ro phá hủy công trình chỉ thực sự xảy ra khi gia tốc nền vượt quá ngưỡng chịu đựng của móng và khung nhà (thường chỉ xuất hiện ở khu vực gần tâm chấn hoặc các trận động đất nội vùng mạnh).

Đối với các trận động đất xa, rủi ro lớn nhất không phải là sập nhà, mà là rủi ro thứ cấp do hoảng loạn: Người dân giẫm đạp lên nhau chạy xuống cầu thang bộ, hoặc bị vật dụng nội thất rơi vỡ gây thương tích.

Phân vùng mức độ hoạt động động đất trên lãnh thổ Việt Nam. (Nguồn: Nguyễn Hồng Phương)
Phân vùng mức độ hoạt động động đất trên lãnh thổ Việt Nam. (Nguồn: Nguyễn Hồng Phương)

Không chờ động đất mới ứng phó

- Khoa học chưa thể nói chính xác ngày giờ một trận động đất lớn xảy ra. Vậy nếu không thể dự báo trước thì chúng ta đang có những lớp bảo vệ nào và khoảng trống lớn nhất hiện nay nằm ở đâu?

Việc khoa học hiện đại chưa thể dự báo chính xác ngày giờ, vị trí xảy ra động đất là một thực tế trên toàn thế giới.

Để ứng phó, hệ thống phòng thủ của chúng ta được xây dựng qua 3 lớp chính gồm: Lập bản đồ phân vùng nguy hiểm động đất và tiêu chuẩn xây dựng kháng chấn; Mạng lưới quan trắc, cảnh báo sớm giúp phát hiện nhanh tâm chấn cũng như độ lớn ngay khi động đất vừa xảy ra và cuối cùng là kịch bản ứng phó khẩn cấp, công tác cứu hộ cứu nạn.

Tuy nhiên, dù đã có các lớp bảo vệ cơ bản nói trên nhưng chúng ta vẫn đối mặt với những “khoảng trống” rất lớn. Thực tế, nhiều công trình dân sinh tự phát, nhà ở thấp tầng cũ hoặc các khu chung cư xây dựng từ nhiều thập kỷ trước không được thiết kế kháng chấn hoặc đã xuống cấp nghiêm trọng. Nếu xảy ra động đất nội vùng mạnh, đây chính là khu vực dễ bị tổn thương nhất.

Người dân ở các đô thị lớn chưa được thực hành quy trình ứng phó động đất định kỳ (như diễn tập tại trường học, công sở). Mạng lưới trạm quan trắc còn mỏng (chỉ khoảng 30 trạm) nên cần phải được đầu tư nhiều hơn để nâng cao độ chính xác và tốc độ truyền tin cảnh báo sớm đến từng thiết bị di động của người dân theo thời gian thực.

Ngoài ra, tiêu chuẩn xây dựng kháng chấn của chúng ta chưa được cập nhật thường xuyên. Năm 2006 ban hành tiêu chuẩn, nhưng đến năm 2022 mới có tiêu chuẩn mới. Trong khoảng thời gian đó, nhiều dữ liệu về động đất và các nguồn phát sinh động đất chưa được cập nhật đầy đủ.

Chuyên gia Nguyễn Hồng Phương cho rằng tiêu chuẩn xây dựng kháng chấn đối với các công trình tại Việt Nam cần được cập nhật thường xuyên.
Chuyên gia Nguyễn Hồng Phương cho rằng tiêu chuẩn xây dựng kháng chấn đối với các công trình tại Việt Nam cần được cập nhật thường xuyên.

- Nếu phải lựa chọn giữa việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống quan trắc, sửa đổi tiêu chuẩn xây dựng hay phổ biến kỹ năng ứng phó cho hàng triệu người dân, đâu là việc cần làm ngay?

Khi đặt lên bàn cân cả ba giải pháp: hoàn thiện quan trắc, sửa đổi tiêu chuẩn xây dựng và phổ biến kỹ năng ứng phó cho cộng đồng thì không có giải pháp nào có thể thay thế hoàn toàn cho giải pháp nào, bởi chúng đóng các vai trò khác nhau trong chuỗi phòng thủ.

Tuy nhiên, nếu xét về tính cấp bách để biến các nghiên cứu khoa học thành khả năng tự bảo vệ thực sự cho người dân thì việc phổ biến kỹ năng ứng phó và nâng cao nhận thức cộng đồng có thể làm ngay. Đây là giải pháp ít tốn kém nhất, thực thi nhanh nhất nhưng mang lại hiệu quả trực tiếp và lập tức nhất để bảo vệ tính mạng con người.

Việc nghiên cứu địa chấn hay bản đồ phân vùng dù chính xác đến đâu cũng sẽ nằm trên giấy nếu như người dân không biết phải làm gì khi mặt đất bắt đầu rung lắc. Trong vài chục giây đầu tiên khi động đất xảy ra luôn là “thời gian vàng” nên việc phổ biến các kỹ năng cơ bản có thể cứu sống hàng ngàn người ngay lập tức mà chưa cần đến sự can thiệp của hạ tầng phức tạp.

Tiếp theo, việc làm dài hạn và cốt lõi đó là cần phải sửa đổi, kiểm soát tiêu chuẩn xây dựng kháng chấn. Thực tế, động đất không trực tiếp giết người mà sự sập đổ của các công trình mới gây ra thương vong. Việc cập nhật tiêu chuẩn xây dựng dựa trên các số liệu địa chấn mới nhất, đồng thời giám sát nghiêm ngặt việc thực thi tiêu chuẩn kháng chấn (đặc biệt đối với các tòa nhà cao tầng, chung cư cũ và hạ tầng trọng điểm) là “lá chắn” kiên cố nhất để ngăn ngừa thảm họa về mặt lâu dài.

Ngoài ra, hoàn thiện hệ thống quan trắc và cảnh báo sớm rất quan trọng. Nếu không có mạng lưới quan trắc đủ dày, chúng ta sẽ không có dữ liệu để xây dựng bản đồ nguy cơ địa chấn và không thể phát tín hiệu cảnh báo sớm để kích hoạt kỹ năng ứng phó của người dân. Việc tiếp tục đầu tư hoàn thiện trạm quan trắc là công việc mang tính nền tảng khoa học, cần duy trì liên tục và đồng bộ.

Lực lượng cứu hộ cứu nạn của Việt Nam thường xuyên có mặt tại những điểm nóng thảm họa động đất trên thế giới để hỗ trợ nước bạn. (Ảnh: Bộ Quốc phòng)
Lực lượng cứu hộ cứu nạn của Việt Nam thường xuyên có mặt tại những điểm nóng thảm họa động đất trên thế giới để hỗ trợ nước bạn. (Ảnh: Bộ Quốc phòng)

- Nếu khoa học chưa thể xác định chính xác thời điểm xảy ra động đất lớn, chúng ta nên thay đổi cách tiếp cận rủi ro thế nào thay vì chờ một dự báo chính xác?

Tâm lý trông chờ một lời tiên tri chính xác về ngày giờ, địa điểm xảy ra động đất là điều hoàn toàn dễ hiểu ở góc độ tâm lý con người, nhưng dưới góc độ khoa học và quản lý rủi ro thiên tai, đó lại là một phương pháp tiếp cận thụ động và nguy hiểm.

Trên thế giới hiện nay, không một quốc gia hay công nghệ khoa học tiên tiến nào có thể dự báo chính xác thời điểm (ngày, giờ, tháng) diễn ra một trận động đất lớn. Việc người dân liên tục đặt câu hỏi “Bao giờ sẽ có trận động đất lớn” thực chất là đang tìm kiếm một đáp án mà khoa học chưa thể cung cấp. Nếu tiếp tục thụ động chờ đợi một lời dự báo trước, chúng ta sẽ bỏ lỡ “khoảng thời gian vàng” để chủ động phòng ngừa.

Thay vì cố gắng dự báo khi nào động đất xảy ra, khoa học địa chất đã cung cấp cho chúng ta những dữ liệu cực kỳ giá trị về ở đâu và mức độ ra sao. Cụ thể, chúng ta đã xác định rõ các hệ thống đứt gãy hoạt động (như đứt gãy sông Mã, Điện Biên - Lai Châu, sông Hồng...) và lập bản đồ phân vùng nguy hiểm.

Hành động thiết thực nhất, đối với chính quyền và cơ quan quản lý đó là cần áp dụng triệt để bản đồ phân vùng địa chấn vào quy hoạch đô thị. Các cơ quan siết chặt quy chuẩn xây dựng kháng chấn đối với các tòa nhà cao tầng, công trình trọng điểm và kiểm định an toàn cho các khu chung cư cũ; xây dựng kịch bản ứng phó khẩn cấp và diễn tập thường xuyên.

Đối với người dân, cần chấp nhận sự thật rằng động đất là một hiện tượng tự nhiên có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Thay vì hoảng loạn hỏi “khi nào xảy ra”, hãy tự hỏi “nếu mặt đất rung lắc ngay lúc này, mình và gia đình đã biết cách trú ẩn an toàn hay chưa?“

Khoa học địa chấn không đóng vai trò của một “thầy bói”, mà là công cụ để chúng ta xây dựng những ngôi nhà an toàn hơn và đào tạo nên những cộng đồng có khả năng tự vệ cao hơn trước thiên tai.

Xin cảm ơn ông!

TIẾN THẮNG (vtcnews.vn)