Tin hot
23/10/2026 09:35Nghệ nhân đứng lớp: Danh hiệu có thay được bằng cấp?
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được Quốc hội khóa XVI cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 2, mở rộng cánh cửa cho nghệ sĩ, nghệ nhân tham gia giảng dạy, hướng dẫn thực hành.
Một mặt, các tranh luận về quy định này xoay quanh việc danh hiệu có thể “thay” bằng cấp hay không. Mặt khác, câu hỏi còn đang bỏ ngỏ là chính sách nhân lực của dự thảo đã chạm tới những người sáng tạo tự do vốn là lực lượng đông đảo của công nghiệp văn hóa hay chưa.

Trong giới sân khấu truyền thống, chuyện người giỏi nghề lại “thiếu chuẩn” không hiếm. Những nghệ sĩ của Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TP.HCM học nghề theo lối truyền nghề, gắn bó với sân khấu gần 20 năm mới được tuyển dụng chính thức chỉ vì không có bằng cấp. Trong khi đó, có những người tốt nghiệp chính quy phải học thêm nhiều năm mới đứng vững được trên sàn diễn. Tay nghề của người nghệ sĩ không chỉ nằm trong tấm bằng mà kết tinh trong hàng chục năm học hỏi, luyện tập và biểu diễn.
Những người nắm giữ “vốn nghề” quý nhất của chèo, tuồng, ca trù, nhạc cụ dân tộc hay nghề thủ công truyền thống thường là nghệ nhân lớn tuổi, học nghề từ gia đình, từ phường hội, ít ai có bằng thạc sĩ, tiến sĩ. Với chuẩn trình độ hiện hành, họ khó có “tư cách” đứng lớp chính thức. Nhà trường thiếu người dạy giỏi nghề, còn tri thức nghề của nghệ nhân thì mai một dần theo tuổi tác.
Dự thảo mở cánh cửa nhà trường
Dự thảo Luật trình Quốc hội kèm Tờ trình số 811 ngày 2/10/2026 của Chính phủ đã có những quy định đáng ghi nhận để tháo gỡ nút thắt này.
Theo đó, Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú, Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú khi tham gia giảng dạy, hướng dẫn thực hành đúng lĩnh vực chuyên môn của danh hiệu được công nhận đáp ứng yêu cầu về trình độ đào tạo đối với nội dung đó. Quy định áp dụng ở cả trường phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp và đại học.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định điều kiện, hình thức tham gia giảng dạy sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Nghệ sĩ, nghệ nhân, người thực hành và truyền dạy di sản khi ký hợp đồng giảng dạy được trả thù lao theo thỏa thuận, trong khung áp dụng cho chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành. Chuyên gia của doanh nghiệp công nghiệp văn hóa có thể trở thành nhà giáo đồng cơ hữu.
Đây là những bước tiến quan trọng nhằm cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, coi văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng của sự phát triển. Tuy vậy, còn những cách nhìn khác nhau về quy định mới này.
Danh hiệu có thay được bằng cấp?
Báo cáo thẩm tra số 1218 ngày 12/10/2026 của Ủy ban Văn hóa và Xã hội cho rằng Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú, Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú là danh hiệu vinh dự Nhà nước trao tặng theo pháp luật về thi đua, khen thưởng. Trong khi đó, trình độ đào tạo gắn với văn bằng theo Khung trình độ quốc gia. Vì vậy, theo Ủy ban, việc công nhận người có danh hiệu “đáp ứng yêu cầu về trình độ đào tạo” là chưa hợp lý.
Thứ nhất, dự thảo không biến danh hiệu thành văn bằng. Quy định chỉ công nhận đáp ứng yêu cầu trình độ đối với nội dung giảng dạy, hướng dẫn thực hành, và chỉ trong đúng lĩnh vực của danh hiệu. Một Nghệ sĩ nhân dân chèo được dạy hát, dạy diễn chèo, nhưng không vì thế mà được hướng dẫn luận văn thạc sĩ hay dạy các học phần lý luận. Phạm vi đã được khoanh lại khá chặt.
Thứ hai, pháp luật về giáo dục đã thừa nhận đặc thù của ngành nghệ thuật. Luật Nhà giáo năm 2025 giao Chính phủ quy định trình độ chuẩn riêng đối với nhà giáo giảng dạy ngành, nghề trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao.
Nghị định số 93/2026 ngày 31/3/2026 của Chính phủ hướng dẫn Luật Nhà giáo tiếp tục giao Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo giảng dạy ngành, nghề đặc thù trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật. Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025 cho phép người chưa có văn bằng theo yêu cầu vẫn được dạy thực hành nếu có năng lực thực hành nghề phù hợp. Như vậy, hệ thống pháp luật đã chấp nhận rằng với nghệ thuật, năng lực nghề có thể là thước đo bên cạnh văn bằng.
Đáng chú ý hơn, Nghị định số 93/2026 đã đưa Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú, Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú vào nhóm đối tượng được hưởng chính sách thu hút, trọng dụng làm nhà giáo, bên cạnh người đạt thành tích cao cấp quốc gia, quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và các ngành, nghề truyền thống.
Nói cách khác, Chính phủ đã sử dụng danh hiệu làm tiêu chí để xác định người tài cần mời về nhà trường. Nhưng cũng theo Nghị định này, điều kiện tuyển dụng nhà giáo vẫn là phải đạt chuẩn trình độ đào tạo theo cấp học, trình độ đào tạo.
Ở trường phổ thông, người dạy âm nhạc, mỹ thuật phải có bằng cao đẳng trở lên ngành sư phạm phù hợp, hoặc bằng cao đẳng ngành phù hợp kèm chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm. Một Nghệ nhân nhân dân chơi đàn bầu, hát xoan hay làm gốm như vậy vừa là người được “thu hút”, vừa có thể không đủ điều kiện để đứng lớp. Nhà nước mời, nhưng cửa chưa mở. Quy định tại dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là để tháo gỡ vấn đề này cho phần dạy thực hành.
Danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ nhân nhân dân được xét qua nhiều cấp hội đồng và do Chủ tịch nước phong tặng, là sự ghi nhận cao nhất của Nhà nước đối với năng lực nghề nghiệp. Việc công nhận danh hiệu cho phần dạy thực hành vì vậy là cụ thể hóa tinh thần đã có trong Luật Nhà giáo và Nghị định số 93/2026/NĐ-CP, chứ không tạo ra một ngoại lệ trái với hệ thống pháp luật.
Thứ ba, lo ngại lạm dụng là có thật nhưng cần được xử lý bằng cơ chế kiểm soát, không phải bằng cách khép cửa. Có ý kiến lo ngại việc mở rộng nhà giáo đồng cơ hữu sẽ bị lợi dụng để nâng chỉ tiêu tuyển sinh. Lo ngại này cần được tiếp thu, và có thể giải quyết bằng những quy định cụ thể như người được công nhận theo danh hiệu không được tính vào tỷ lệ giảng viên để xác định chỉ tiêu tuyển sinh; hợp đồng giảng dạy gắn với học phần thực hành cụ thể; chất lượng giảng dạy được đánh giá công khai.
Cũng cần thấy rằng danh hiệu là một “cánh cửa hẹp”. Danh hiệu được xét theo đợt, với tiêu chí khắt khe. Nhiều nghệ nhân giỏi ở làng nghề, ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều người đã cao tuổi, chưa từng được đề nghị xét tặng. Nếu chỉ dựa vào danh hiệu, chính những người cần được mời vào nhà trường nhất lại có thể đứng ngoài.
Báo cáo thẩm tra cũng cho rằng việc cấp học bổng, miễn học phí cho toàn bộ người học thuộc Danh mục ngành ưu tiên chưa được giới hạn đối với người có tài năng, năng khiếu. Lo ngại dàn trải là có cơ sở, nhưng cần phân biệt từng nhóm ngành. Với chèo, tuồng, múa, nhạc cụ dân tộc, khó khăn lớn nhất hiện nay là không đủ người học.
Tại phiên họp thẩm tra dự án Luật của Ủy ban Văn hóa và Xã hội ngày 3/10/2026, đã có ý kiến nêu thực tế dù đã có học bổng và chính sách hỗ trợ, một số cơ sở đào tạo trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật vẫn không tuyển đủ chỉ tiêu. Với những ngành này, hỗ trợ rộng là để giữ ngành, không phải dàn trải. Các ngành như thiết kế, trò chơi điện tử, hoạt hình đang thu hút đông người học nên chỉ cần dành học bổng cho người có tài năng. Phân tầng chính sách hợp lý hơn là cắt bỏ.
Quan tâm tới người sáng tạo tự do
Nếu tranh luận về danh hiệu là câu chuyện “đưa nghệ sĩ vào nhà trường”, thì vế thứ hai, “giữ người sáng tạo ở lại với nghề”, lại ít được bàn tới.
Phần lớn lực lượng sáng tạo của công nghiệp văn hóa không làm công ăn lương: nhạc sĩ, ca sĩ tự do, họa sĩ, nhà thiết kế, biên kịch, nhiếp ảnh gia, người sáng tạo nội dung số. Thu nhập của họ đến từ hợp đồng theo dự án, nhuận bút, tiền bản quyền, thường không ổn định và phụ thuộc vào mùa vụ.
Một ưu đãi đáng chú ý của dự thảo dành cho nhân lực là miễn thuế thu nhập cá nhân trong 5 năm. Tuy nhiên, theo dự thảo, ưu đãi này chỉ áp dụng cho thu nhập từ tiền lương, tiền công của nhân lực chất lượng cao và gắn với ba trường hợp: dự án tại cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; dự án sản xuất sản phẩm trọng điểm, sản phẩm lõi; hoạt động đào tạo. Người được hưởng lợi vì thế chủ yếu là người làm công trong doanh nghiệp, trong các khu sáng tạo. Một nhạc sĩ tự do sống bằng tiền bản quyền hay một họa sĩ bán tranh theo hợp đồng có thể không được thụ hưởng.
Về an sinh xã hội, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 xác định đối tượng tham gia bắt buộc là người làm việc theo hợp đồng lao động, kể cả hợp đồng có tên gọi khác nhưng có nội dung về việc làm có trả công và chịu sự quản lý, điều hành của một bên. Người làm việc theo hợp đồng dịch vụ, tự chủ công việc như phần lớn nghệ sĩ tự do, thường nằm ngoài diện này. Họ chỉ có thể tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, tự đóng toàn bộ và hưởng ít chế độ hơn. Với thu nhập bấp bênh, không ít người bỏ qua lựa chọn này, chấp nhận rủi ro khi ốm đau, tuổi già.
Thiệt thòi ấy còn lan sang cả con đường vào nghề dạy học. Nghị định số 93/2026 cộng 5 điểm ưu tiên khi tuyển dụng nhà giáo cho người có từ đủ 36 tháng kinh nghiệm làm việc thực tế phù hợp với ngành, nghề giảng dạy, nhưng kèm điều kiện thời gian đó phải có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Một nghệ sĩ tự do có mười năm biểu diễn chuyên nghiệp theo các hợp đồng dịch vụ sẽ khó chứng minh được “kinh nghiệm” theo cách hiểu này. Tình trạng không có an sinh vì thế còn kéo theo việc kinh nghiệm nghề nghiệp không được ghi nhận.
Nhiều quốc gia có ngành công nghiệp văn hóa phát triển đã xử lý bài toán này từ lâu.
Tại Đức, chế độ bảo hiểm xã hội dành cho nghệ sĩ (Künstlersozialkasse) được thiết lập từ năm 1983. Nghệ sĩ, nhà báo tự do đóng một nửa mức đóng, Nhà nước liên bang hỗ trợ 20%, phần còn lại do các doanh nghiệp sử dụng tác phẩm như nhà xuất bản, hãng thu âm, công ty quảng cáo đóng góp. Hiện gần 200.000 người sáng tạo tham gia hệ thống này. Điểm đáng chú ý là doanh nghiệp hưởng lợi từ sáng tạo cùng chia sẻ trách nhiệm an sinh với người sáng tạo.
Tại Pháp, nghệ sĩ và kỹ thuật viên biểu diễn làm theo hợp đồng ngắn hạn có chế độ bảo hiểm thất nghiệp riêng. Người có ít nhất 507 giờ làm việc trong 12 tháng được hưởng trợ cấp trong những quãng nghỉ giữa các hợp đồng. Hai mô hình khác nhau, nhưng cùng xuất phát từ một nhận thức: lao động sáng tạo có tính thời vụ, nên cần một thiết kế an sinh phù hợp chứ không thể áp khuôn theo lao động làm công ăn lương.

Phát huy “di sản sống”, nâng đỡ người sáng tạo
Nghệ nhân là di sản văn hóa sống quý báu. Tri thức, kinh nghiệm của nghề nằm trong đôi tay, giọng hát và ký ức của họ và không dễ để ghi vào sách vở. Phát huy vai trò của nghệ nhân trong nhà trường vì thế không chỉ là bổ sung người dạy mà là cách để di sản được trao truyền cho các thế hệ sau.
Cùng với đó, những người đang theo nghề sáng tạo, dù trong hay ngoài biên chế, cũng cần được nâng đỡ để tiếp nối di sản bằng những sáng tạo mới. Từ những phân tích trên, xin đề xuất một số nội dung để hoàn thiện dự thảo Luật.
Một là, giữ quy định công nhận danh hiệu đối với nội dung giảng dạy, hướng dẫn thực hành, đồng thời làm rõ ranh giới. Quy định chỉ áp dụng cho phần thực hành đúng lĩnh vực của danh hiệu; người được công nhận không được tính vào tỷ lệ giảng viên khi xác định chỉ tiêu tuyển sinh; điều kiện cụ thể do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định, bảo đảm thống nhất với Luật Nhà giáo và Luật Giáo dục nghề nghiệp.
Quy định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về trình độ chuẩn của nhà giáo ngành, nghề đặc thù theo Nghị định số 93/2026 cần được thiết kế đồng bộ với quy định này, để danh hiệu vừa là tiêu chí “thu hút” vừa là căn cứ để được đứng lớp phần thực hành.
Hai là, mở thêm “cánh cửa” cho nghệ nhân, người thực hành di sản chưa có danh hiệu, thông qua cơ chế công nhận năng lực thực hành nghề bởi hội đồng chuyên môn. Việc đưa nghệ nhân vào trường phổ thông cần có chương trình và kinh phí ổn định.
Song song, cần hỗ trợ ghi chép, số hóa các bài truyền dạy của nghệ nhân, để tri thức nghề được lưu giữ lâu dài, không mất đi theo tuổi tác của người giữ nghề. Kinh nghiệm Hàn Quốc cho thấy, chương trình đưa nghệ sĩ vào giảng dạy ở trường học, khởi đầu từ năm 2000 với âm nhạc truyền thống rồi mở rộng ra tám lĩnh vực, đã bị thu hẹp mạnh khi ngân sách trung ương bị cắt giảm trong các năm 2024-2025. Chương trình dựa vào ngân sách từng năm thì dễ bị cắt khi tài khóa khó khăn.
Ba là, phân tầng hỗ trợ người học theo hướng hỗ trợ rộng cho các ngành nghệ thuật truyền thống khó tuyển sinh, cần bảo tồn, còn học bổng theo tài năng dành cho các ngành đang hấp dẫn người học.
Bốn là, mở rộng chính sách tới người sáng tạo tự do. Cần nghiên cứu ưu đãi thuế đối với thu nhập từ quyền tác giả, quyền liên quan và thù lao sáng tạo của cá nhân trong các ngành công nghiệp văn hóa, thay vì chỉ ưu đãi tiền lương. Đồng thời, giao Chính phủ nghiên cứu cơ chế hỗ trợ nghệ sĩ tự do tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, có thể huy động sự chia sẻ của doanh nghiệp khai thác tác phẩm theo hướng tham khảo mô hình của Đức.
Công nghiệp văn hóa suy cho cùng là ngành của con người. Nhà xưởng, khu sáng tạo hay quỹ đầu tư đều cần, nhưng không thay được người nghệ sĩ dám theo nghề và nghệ nhân sẵn lòng truyền nghề. Mỗi nghệ nhân được mời vào lớp học là một di sản sống được tiếp nối. Mở cửa nhà trường cho nghệ nhân là một bước tiến cần thiết. Nhưng để thực sự “giữ người sáng tạo ở lại với nghề”, các quy định cần đến với cả những chủ thể sáng tạo tự do.
NGUYỄN SƠN(Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam)
- Trình Quốc hội quyết định đánh thuế 0,2% với đất bỏ hoang (10:15)
- WHO điều tra ca nhiễm virus Shamonda đầu tiên ở người tại Pháp (22 phút trước)
- Đan Mạch mua tên lửa tầm xa, Nga lên tiếng phản đối (34 phút trước)
- Tỷ phú giàu nhất Indonesia đứng sau đội vừa thắng Man Utd 4-1 là ai? (35 phút trước)
- Sinh viên tốt nghiệp xuất sắc quá nhiều: Siết tuyển sinh hay đổi cách đánh giá? (50 phút trước)
- GDP quý III tăng gần 10%, kỳ vọng ba động lực tăng trưởng trong quý IV (1 giờ trước)
- Nhiệt độ trung bình năm TP.HCM sẽ tăng gần 4°C, thêm 3 tháng nóng (1 giờ trước)
- Ông Trump thông báo Starlink ở Ukraine được khôi phục (1 giờ trước)
- Ông Zelensky hé lộ sự thật về quan hệ với ông Trump và khả năng nhượng lãnh thổ (1 giờ trước)
- Giá vàng hôm nay 23/10: Lao dốc về gần mốc 4.000 USD/ounce (2 giờ trước)