Gần 60 năm sau Xuân Mậu Thân 1968, cựu nữ biệt động Bích Nga vẫn đau đáu nhớ lời hẹn "gặp lại ở Sài Gòn" với những đồng đội mãi mãi không trở về.

“Hẹn gặp lại ở Sài Gòn nhé!”

Đó là câu nói mà những người lính trẻ vẫn thường dành cho nhau mỗi khi chia tay trước giờ xuất kích vào những ngày cuối năm 1967. Khi khắp các cánh rừng cao su vùng ven Củ Chi ken đặc bộ đội chủ lực, xe vận tải, pháo và đạn dược đang âm thầm áp sát cửa ngõ Sài Gòn để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Họ nói câu ấy với một nụ cười rất nhẹ, một cái vỗ vai rất nhanh, rồi mỗi người lại lặng lẽ bước về đơn vị của mình với một niềm tin giản dị rằng, chỉ ít ngày nữa thôi, khi thành phố được giải phóng, tất cả sẽ gặp lại nhau giữa Sài Gòn.

Nhưng gần sáu thập kỷ đã trôi qua, lời hẹn ấy vẫn còn dang dở...

Đòn pháo kích chấn động Sài Gòn

Trong căn nhà trên đường Hưng Phú (phường Chánh Hưng, TP.HCM), bà Nguyễn Thị Bích Nga - nữ xạ thủ biệt động từng mang bí danh “Thủy đen” ngồi trước chúng tôi, chậm rãi lật từng trang sách cũ đã ngả màu thời gian.

Mỗi lần nhắc đến những đồng đội năm xưa, giọng bà chùng xuống như thể mọi ký ức chỉ mới diễn ra ngày hôm qua. Còn những khuôn mặt tuổi đôi mươi ấy vẫn đang đứng đâu đó giữa cánh rừng cao su, mỉm cười và nói với nhau câu hẹn năm nào.

Lời hẹn dang dở của nữ chiến sĩ biệt động với đồng đội trong Xuân Mậu Thân 1968 - 1
Bà Nguyễn Thị Bích Nga - nữ xạ thủ biệt động từng mang bí danh “Thủy đen”.

Ít ai nghĩ rằng người phụ nữ 74 tuổi với giọng nói nhỏ nhẹ này từng là một trong những pháo thủ trẻ nhất của Đội 6 Biệt động Sài Gòn.

Khi nhận nhiệm vụ tham gia trận pháo kích vào sở chỉ huy của tướng William Westmoreland (1914 - 2005) - Tổng tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam, bà mới mười sáu tuổi. Độ tuổi mà nhiều thiếu nữ khác vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường, còn bà đã được huấn luyện như một chiến sĩ đặc công thực thụ.

Từ lội sình, vượt suối, trèo tường, chui hàng rào kẽm gai cho đến hơn bảy mươi thế võ để sẵn sàng bước vào những nhiệm vụ mà ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc.

Thời điểm ấy, quân đội Mỹ vừa kết thúc cuộc hành quân Cedar Falls - chiến dịch mà họ tự tin gọi là “bóc vỏ trái đất” với tham vọng san phẳng Tam giác sắt Củ Chi, xóa sổ Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định và tiêu diệt lực lượng chủ lực của quân giải phóng.

Dù chiến dịch không đạt được mục tiêu, bộ máy tuyên truyền của Mỹ và chính quyền Sài Gòn vẫn liên tục khẳng định căn cứ cách mạng ở Củ Chi đã bị triệt phá hoàn toàn, phong trào kháng chiến không còn khả năng tổ chức những trận đánh lớn.

Để đáp trả luận điệu ấy, Quân khu Sài Gòn - Gia Định quyết định tung ra một đòn đánh táo bạo ngay giữa trung tâm đô thị. Mục tiêu được lựa chọn là sở chỉ huy của tướng Westmoreland trên đường Phan Đình Phùng, nơi được xem là “bộ não” điều hành chiến tranh của quân đội Mỹ tại miền Nam lúc bấy giờ.

Nhiệm vụ được giao cho Đội 6 Biệt động thành.

Nhớ lại những ngày chuẩn bị cho trận đánh đã đi vào lịch sử ấy, bà Bích Nga kể mọi công đoạn đều được thực hiện trong bí mật tuyệt đối.

Khẩu cối 82 ly được vận chuyển từ Trảng Bàng (Tây Ninh) về Sài Gòn, ngụy trang kín đáo trong một thân gỗ lớn. Ban ngày, ngôi nhà trên đường Vườn Chuối vẫn sinh hoạt như bao gia đình khác, còn khi màn đêm buông xuống, từng lớp gỗ mới được âm thầm đục bỏ, từng bộ phận của khẩu cối được đưa xuống căn hầm bí mật dưới nền nhà.

Để che mắt địch, bà Nga cùng một đồng đội đóng giả thành đôi vợ chồng trẻ mới cưới, ngày ngày đi lại bình thường giữa khu dân cư đông đúc. Không ai biết rằng chỉ cách mặt đất vài mét là cả một trận địa pháo đang dần hình thành, và ngay trên mái nhà ấy, một ô vuông nhỏ đã được khoét sẵn để chờ giờ khai hỏa.

Lời hẹn dang dở của nữ chiến sĩ biệt động với đồng đội trong Xuân Mậu Thân 1968 - 2
Sau 58 năm, bà vẫn đau đáu nhớ lời hẹn “gặp lại ở Sài Gòn” với những đồng đội mãi mãi không trở về.

Đúng 6 giờ ngày 13/2/1967, khẩu cối đầu tiên vang lên giữa lòng Sài Gòn.

Bà Bích Nga khi ấy là xạ thủ số 2, phụ trách tiếp đạn và phối hợp ngắm bắn. Theo kế hoạch, tổ chiến đấu sẽ khai hỏa liên tiếp 10 quả đạn cối vào sở chỉ huy của tướng Westmoreland, nhưng chiến trường không bao giờ diễn ra đúng như những gì đã tính toán.

Sau phát bắn đầu tiên, giàn gỗ kê nòng cối bắt đầu xê dịch. Đến quả thứ hai, toàn bộ bệ đỡ bất ngờ sập xuống, làm xạ thủ số 1 bị thương. Cả tổ vẫn cố gắng bắn tiếp quả thứ ba, nhưng khi chuẩn bị khai hỏa quả thứ tư thì góc bắn đã lệch hoàn toàn, buộc chỉ huy phải ra lệnh rút lui để bảo toàn lực lượng.

Giữa vòng vây đang khép dần của quân Mỹ và chính quyền Sài Gòn, cô gái mới 16 tuổi ôm theo khẩu súng ngắn cùng những quả lựu đạn, vừa cảnh giới vừa yểm trợ cho bốn đồng đội rời khỏi hiện trường an toàn. Cô bình tĩnh băng qua từng con hẻm, từng lớp truy lùng dày đặc như thể đó chỉ là một nhiệm vụ huấn luyện đã được tập đi tập lại hàng trăm lần trước đó.

Trận pháo kích chỉ kéo dài trong ít phút nhưng đã tạo nên một cú sốc lớn, chứng minh rằng lực lượng cách mạng không chỉ đứng vững ở Củ Chi mà còn đủ sức đánh thẳng vào những mục tiêu được bảo vệ nghiêm ngặt nhất ngay giữa trung tâm Sài Gòn.

Khi được hỏi điều gì đã khiến một cô gái mới 16 tuổi dám nhận nhiệm vụ mà ai cũng hiểu khả năng trở về là rất mong manh, bà Bích Nga mỉm cười, trả lời chậm rãi: “Hồi đó tụi tôi không nghĩ nhiều đến chuyện sống chết. Được giao nhiệm vụ thì chỉ biết làm cho bằng được. Ai cũng nghĩ đơn giản rằng mình có thể hy sinh, nhưng nếu mình không đi thì sẽ có người khác đi”.

Đó cũng chính là suy nghĩ của cả một thế hệ thanh niên bước vào mùa xuân năm 1968 - mùa xuân mà họ tin rằng lời hẹn “gặp nhau ở Sài Gòn” sẽ sớm trở thành hiện thực.

Lời hẹn dang dở

Sau trận pháo kích làm chấn động Sài Gòn đầu năm 1967, nhịp chuẩn bị cho một chiến dịch lớn chưa từng có càng trở nên gấp gáp.

Những tháng cuối năm, từ các căn cứ vùng ven Củ Chi, Bến Cát, Trảng Bàng, từng đơn vị chủ lực, từng đội biệt động, từng tổ trinh sát nối nhau hành quân về cửa ngõ Sài Gòn trong bí mật tuyệt đối.

Lời hẹn dang dở của nữ chiến sĩ biệt động với đồng đội trong Xuân Mậu Thân 1968 - 3
Bà Nguyễn Thị Bích Nga ngày trẻ. (Ảnh: NVCC)

Ban ngày, cánh rừng cao su vẫn tĩnh lặng như mọi ngày, nhưng khi màn đêm buông xuống, cả khu căn cứ bừng lên một sức sống khác. Xe vận tải ì ầm chở đạn, pháo và lương thực, những con đường đất đỏ ken đặc dấu chân người, còn trong ánh đèn dầu leo lét dưới các hầm trú quân, những người lính trẻ lặng lẽ lau súng, kiểm tra từng băng đạn, học lại sa bàn và chờ lệnh xuất kích.

Đó là quãng thời gian mà theo lời bà Bích Nga, không ai còn nghĩ nhiều đến bản thân mình. Người nào cũng biết trận đánh phía trước sẽ vô cùng ác liệt, sẽ có người không bao giờ trở về, nhưng điều duy nhất họ mong mỏi lại rất giản dị, đó là được góp mặt trong giờ phút quyết định của đất nước.

Bà nhớ như in những gương mặt khi ấy. Có người vừa tròn mười tám, có người mới cưới vợ chưa đầy vài tháng, có người còn chưa kịp báo tin cho gia đình rằng mình đã vào lực lượng biệt động. Trong ba lô của họ hầu như không có vật dụng cá nhân, bởi nhiều người trước lúc lên đường đã chủ động bỏ lại tất cả.

“Lỡ mình hy sinh thì mang nhiều cũng chẳng để làm gì”. Họ cười với nhau như thế.

Giữa những ngày chuẩn bị khẩn trương ấy, điều bà nhớ nhất lại không phải tiếng xe, tiếng súng hay những cuộc họp tác chiến kéo dài xuyên đêm, mà là những cái bắt tay rất chặt và lời hẹn mà ai cũng tin sẽ thành sự thật.

“Hẹn gặp nhau ở Sài Gòn nhé!”

Câu nói ấy được nhắc đi nhắc lại rất nhiều trước giờ xuất quân, không ai coi đó là lời từ biệt. Họ tin rằng cuộc tổng tiến công sẽ mở ra một bước ngoặt lớn, và chỉ ít ngày nữa thôi, tất cả sẽ gặp lại nhau giữa thành phố mà họ đã dành cả tuổi trẻ để chiến đấu. Bà Bích Nga cũng tin như vậy.

Khi ấy, cô gái vừa bước sang tuổi mười bảy đã được phân công tham gia mũi tiến công vào Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn. Sau nhiều tháng huấn luyện trên sa bàn, bà và đồng đội chỉ còn chờ đến đêm xuất kích. Mọi công tác chuẩn bị đã hoàn tất, mọi người đều nóng lòng lên đường.

Thế nhưng, chỉ một tuần trước đêm Giao thừa năm Mậu Thân, một cơn sốt rét ác tính bất ngờ quật ngã cô gái trẻ.

Giọng bà Nga chùng xuống khi nhắc lại biến cố ấy. Đó không phải vết thương do bom đạn, cũng không phải một trận càn của địch, mà chỉ là một cơn sốt khiến cơ thể kiệt quệ đến mức tổ chức buộc phải giữ bà ở lại tuyến sau điều trị.

Lời hẹn dang dở của nữ chiến sĩ biệt động với đồng đội trong Xuân Mậu Thân 1968 - 4
Bà Nguyễn Thị Bích Nga (thứ hai từ phải sang) cùng các cựu tù sau khi trở về đất liền sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. (Ảnh: NVCC)

Đến hôm nay, sau gần sáu mươi năm, bà vẫn nói đó là điều khiến mình day dứt nhất cuộc đời.

“Tôi khóc nhiều lắm. Xin đi cũng không cho đi. Ai cũng được ra trận, chỉ mình bị giữ lại”, bà nghẹn ngào nói.

Bà nói ngày ấy không một ai muốn ở lại. Người nào cũng tranh nhau nhận nhiệm vụ, người nào cũng biết có thể sẽ hy sinh nhưng không ai chần chừ. Ngay cả anh nuôi, người hằng ngày chỉ quen với bếp núc, chưa từng trực tiếp cầm súng chiến đấu, cũng nhất quyết xin theo đơn vị rồi mãi mãi không trở về.

“Tôi cứ nghĩ vài hôm nữa mọi người sẽ về. Nhưng rồi chờ mãi...”, câu nói bỏ lửng giữa căn phòng nhỏ.

Theo thống kê của lực lượng Biệt động Sài Gòn, trong hai đợt Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, 61 trong số 88 chiến sĩ biệt động thành đã anh dũng hy sinh. Nhiều tổ chiến đấu gần như bị xóa sổ hoàn toàn.

Có những căn hầm bí mật sau trận đánh không còn một ai trở lại, có những người vừa mới cười nói cùng nhau vài ngày trước đã nằm lại giữa lòng thành phố, không tên tuổi, không mộ chí.

“Tụi tôi hẹn gặp nhau ở Sài Gòn...”, bà Nga dừng lại, đôi mắt đỏ hoe: “...Nhưng cuối cùng chẳng gặp được nhau”.

Gần sáu mươi năm đã trôi qua, lời hẹn năm ấy vẫn còn nguyên trong ký ức người nữ biệt động. Chỉ khác là những người từng nắm chặt tay nhau trước giờ xuất quân giờ đây phần lớn đã hóa thành những cái tên trên bia tưởng niệm, hoặc vẫn còn đâu đó dưới lòng đất, chờ một ngày được gọi đúng tên và trở về với gia đình.

Bảy năm tra tấn và lời thề không phản bội

Nếu cơn sốt rét đã cướp đi của bà Bích Nga cơ hội bước vào đợt Tổng tiến công đầu tiên thì chỉ ít tháng sau, người nữ biệt động lại tiếp tục trở về chiến trường trong đợt hai của chiến dịch Mậu Thân với nhiệm vụ vận chuyển cối 60 ly phục vụ mũi tiến công Dinh Độc Lập.

Nhưng lần này, số phận lại đưa bà sang một cuộc chiến khác, khốc liệt không kém, đó là gần bảy năm sống trong hệ thống nhà tù của chính quyền Sài Gòn.

Bà bị bắt khi đang làm nhiệm vụ tại Chi khu Bình Chánh. Từ đó, người nữ chiến sĩ lần lượt bị chuyển qua nhiều trại giam như Bình Chánh, Gia Định, Thủ Đức, khám Chí Hòa, Tân Hiệp rồi Côn Đảo, nơi hàng nghìn chiến sĩ cách mạng từng bị giam cầm trong những năm tháng khốc liệt nhất của cuộc chiến.

Ký ức về những trận đòn roi, những lần khảo cung kéo dài suốt đêm hay những ngày bị cùm chân trong xà lim tối om chưa bao giờ phai mờ, nhưng điều khiến bà nhớ nhất lại là lần đối mặt với viên sĩ quan thẩm vấn từng nhận ra mình chính là cô gái tham gia trận pháo kích vào sở chỉ huy của tướng Westmoreland năm nào.

Lời hẹn dang dở của nữ chiến sĩ biệt động với đồng đội trong Xuân Mậu Thân 1968 - 5
Bức ảnh cũ gợi lại những năm tháng chiến đấu của bà Nguyễn Thị Bích Nga.

“Mày trước đây có pháo kích Sài Gòn phải không?”. Câu hỏi được ném thẳng vào người nữ tù binh vừa bị đánh đập đến kiệt sức.

“Tôi không biết. Không phải tôi. Tôi chỉ đi làm mướn”. Bà trả lời bình thản.

Không khai thác được gì, viên sĩ quan bất ngờ chĩa khẩu súng ngắn vào ngực người nữ tù. Theo phản xạ của một chiến sĩ đã trải qua nhiều năm huấn luyện, bà lập tức đưa tay gạt phăng nòng súng sang một bên.

Chỉ một động tác diễn ra trong tích tắc ấy cũng đủ để những người thẩm vấn hiểu rằng người phụ nữ trước mặt không phải một lao động bình thường như lời khai, mà đã được đào tạo quân sự bài bản.

Những trận tra tấn sau đó còn khốc liệt hơn. Thế nhưng, suốt gần bảy năm bị giam cầm, bà chưa từng khai ra đồng đội.

Có những lúc tưởng như cơ thể không thể chịu đựng nổi thêm một trận đòn nào nữa, nhưng trong suy nghĩ của người nữ biệt động trẻ tuổi khi ấy chỉ có một niềm tin duy nhất: đất nước rồi sẽ thống nhất. Mình có còn sống để nhìn thấy ngày ấy hay không không còn quan trọng nữa.

Có lẽ chính sự kiên cường ấy đã khiến ngay cả những người ở phía bên kia chiến tuyến cũng phải nhìn bà bằng một ánh mắt khác. Sau nhiều lần thẩm vấn bất thành, viên trưởng cơ sở điều tra từng nói với bà một câu mà đến hôm nay bà vẫn còn nhớ: “Tôi rất phục phụ nữ Việt Nam. Các cô rất ngoan cường, dũng cảm”.

Và rồi giữa nhà tù Côn Đảo, một chiếc radio nhỏ bất ngờ truyền đi bản tin mà hàng triệu người Việt Nam chờ đợi suốt nhiều năm. Sài Gòn được giải phóng, chiến tranh kết thúc.

Ban đầu, chẳng ai dám tin. Những người tù chính trị nhìn nhau, sợ đó chỉ là một thủ đoạn khác của địch. Chỉ đến khi tiếng reo hò vang lên khắp các khu giam, cánh cửa nhà tù dần mở ra và lá cờ cách mạng xuất hiện trước mắt, họ mới biết rằng ngày hòa bình thực sự đã đến.

Bà Bích Nga trở về sau chiến tranh với đầy những vết thương trên cơ thể. Những di chứng từ các trận tra tấn khiến bà phải nghỉ hưu khi mới ngoài 40 tuổi. Nhưng điều khiến người phụ nữ ấy chưa bao giờ được nghỉ ngơi lại không nằm ở những vết thương ấy.

Đó là những đồng đội, những người từng cùng bà vượt qua các lớp rào kẽm gai, từng cùng bà khiêng khẩu cối vào nội đô. Những người từng cười rất tươi và nói với nhau: “Hẹn gặp lại ở Sài Gòn nhé!”.

Nhiều người trong số họ đến hôm nay vẫn chưa có một ngôi mộ mang tên mình...

Hành trình tìm lại tên cho đồng đội

Từ năm 2025, trên cương vị Chủ nhiệm Câu lạc bộ Truyền thống Kháng chiến Khối vũ trang Biệt động Sài Gòn - Gia Định, bà Bích Nga gần như dành toàn bộ thời gian để lần theo từng hồ sơ cũ, từng ký ức của nhân chứng, từng mẩu giấy đã úa màu thời gian với hy vọng tìm lại tên tuổi, quê quán, thân nhân và nơi an nghỉ của những đồng đội năm xưa.

Công việc ấy khó khăn hơn nhiều người tưởng. Hoạt động trong lòng địch, mỗi chiến sĩ biệt động thường mang nhiều bí danh, nhiều thân phận khác nhau. Có người là học sinh, có người làm công nhân, có người bán hàng ngoài chợ, có người lái xe thuê.

Sau mỗi trận đánh, dấu vết bị xóa sạch, giấy tờ thất lạc, người biết sự thật lần lượt qua đời. Vì vậy, sau ngày đất nước thống nhất, chỉ một số ít chiến sĩ được công nhận liệt sĩ, còn rất nhiều người vẫn chưa thể trở về đúng với tên tuổi của mình.

Những ngày gần đây, bà luôn dõi theo thông tin về công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng, nơi nhiều cán bộ, chiến sĩ đã ngã xuống trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Với người nữ biệt động đã đi qua chiến tranh, mỗi hài cốt được tìm thấy không chỉ khép lại hành trình tìm kiếm của một gia đình, mà còn là một lời hẹn được thực hiện sau gần sáu mươi năm.

Thy Huệ (vtcnews.vn)