Việc triển khai các nghị quyết lớn về phát triển kinh tế Việt Nam đặt ra yêu cầu khu vực kinh tế nhà nước phải thực sự phát huy vai trò “đầu tàu”, tiên phong, dẫn dắt. Các chuyên gia cho rằng: Để thực hiện được mục tiêu trên, cần tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, trao quyền thực chất cho doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và phân định rõ ràng vai trò với khu vực tư nhân, qua đó tạo sự bổ trợ thay vì cạnh tranh, nhằm khai thác tối đa nguồn lực và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

GS.TS. Hoàng Văn Cường - Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội: Phân định sân chơi cho khu vực nhà nước và tư nhân

Chúng ta đã có Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Hiện nay, chúng ta đồng thời triển khai Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước với vai trò dẫn dắt, tiên phong, dẫn đường. Điều này đặt câu hỏi, liệu hai khu vực này có xung đột với nhau không? Với khu vực nhà nước, nguyên tắc là phải có hạch toán đầy đủ theo nguyên tắc thị trường, dựa vào thị trường. Song, vận hành trong cơ chế thị trường thì phải có cạnh tranh. Nếu không giải quyết mối quan hệ này sẽ tiềm ẩn cạnh tranh giữa DNNN và doanh nghiệp tư nhân. Sự cạnh tranh này có hai sắc thái: Cùng phát triển hoặc gây tổn hại cho nhau. Nếu khu vực nhà nước không đủ sức vươn lên, làm sao có thể dẫn dắt, mở đường. Nghị quyết rất đúng, mục tiêu đúng, định hướng đúng. Nhưng quá trình triển khai một số chính sách chưa rõ đường đi. Chúng ta cần tìm cách đi để kinh tế tư nhân giữ vai trò động lực quan trọng nhất, kinh tế nhà nước dẫn dắt, mở đường.

Chương trình hành động của Nghị quyết số 79-NQ/TW cần xác định cách đi rõ ràng. Nhà nước phải đảm nhận vai trò phân định sân chơi cho khu vực nhà nước và tư nhân. Một số lĩnh vực chủ chốt, nhà nước cần nắm giữ như: quản lý hàng không, hàng hải liên quan chủ quyền an ninh. Nhưng với lĩnh vực khác, ví dụ như về năng lượng, cả tư nhân cũng có tham gia và nhà nước cần phân định rõ vai trò của từng khu vực. Bản thân trong khu vực nhà nước, cần chỉ rõ nhiệm vụ của từng doanh nghiệp và tập trung đầu tư nguồn vốn. Việc phân bổ đầu tư phải có chiến lược thực hiện, tránh việc cái gì cũng cần nguồn lực đầu tư.

Bên cạnh đó, cần phân định rạch ròi giữa quản lý nhà nước và quản trị doanh nghiệp. Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp (gọi tắt là Luật 68/2025) quy định rõ việc đánh giá bảo toàn phát triển vốn dựa vào kết quả tổng thể. Ví dụ, khi doanh nghiệp đầu tư, có thể 9 dự án lỗ, 1 dự án lãi, tổng thể doanh nghiệp đầu tư vẫn lãi, sẽ đúng quy định. Luật 68/2025 vẫn còn điểm cần sửa về phân chia lợi nhuận. Lợi nhuận là kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Hiện nay, quy định về phân chia lợi nhuận đã can thiệp vào quản trị doanh nghiệp. Ví dụ, doanh nghiệp có lợi nhuận dưới 10.000 tỷ đồng thì Chính phủ quyết định việc phân chia. Nếu lợi nhuận trên 10.000 tỷ đồng thì việc phân chia phải chờ Quốc hội quyết định. Tôi cho rằng cần phải sửa điểm này theo hướng tự chủ cho doanh nghiệp và có cơ chế quản lý, bảo toàn vốn.

Về quy định để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, hầu hết đã có quy định như: năng động, sáng tạo, không vụ lợi cá nhân sẽ được bảo vệ nhưng một số cán bộ vẫn còn e ngại, thậm chí không dám làm, bởi có những lo ngại. Chúng ta cũng có quy định, cán bộ nhà nước chỉ được làm những điều quy định pháp luật cho phép, nhưng như thế thì không có sáng tạo. Muốn sáng tạo thì phải làm những việc chưa ai làm. Do đó, trong khu vực nhà nước nên quy định cán bộ được quyền nghĩ cách làm khác so với thông thường. Nhưng trước khi làm phải báo cáo công khai bằng văn bản. Khi đã công khai, không còn chuyện vụ lợi.

Ông Lê Quang Vũ, Ủy viên HĐTV Tổng Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC): Tránh tắc nghẽn về thể chế để DNNN dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm

Tôi đặc biệt tâm đắc với định hướng “kinh tế nhà nước phải giữ vai trò tiên phong, mở đường, dẫn dắt phát triển” trong Nghị quyết số 79-NQ/TW. Tuy nhiên, để làm rõ hơn tinh thần này cần nhấn mạnh thêm một khái niệm quan trọng: DNNN phải thực sự có năng lực thực chất, chứ không chỉ mang tính hình thức.

Chúng tôi nhận thấy điều này rất rõ từ thực tiễn của VEC. VEC được thành lập từ năm 2004, đã triển khai nhiều dự án cao tốc trọng điểm quốc gia. Tuy nhiên, trong một thời gian dài, doanh nghiệp rơi vào tình trạng có thể gọi là “tắc nghẽn về thể chế và nguồn lực”.

Đến giai đoạn 2021-2022, vốn điều lệ của VEC chưa đến 1.000 tỷ đồng, trong khi tổng tài sản ghi nhận lên tới khoảng 108.000 tỷ đồng (trước điều chỉnh là 125.000 tỷ đồng). Cơ cấu vốn như vậy khiến doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong huy động vốn để triển khai dự án mới, dẫn tới việc VEC bị lỡ nhịp trong một số dự án cao tốc Bắc - Nam. Bước ngoặt chỉ thực sự đến khi Quốc hội thông qua chủ trương tăng vốn điều lệ cho VEC. Sau khi hoàn tất thủ tục, vốn điều lệ của VEC đã tăng lên gần 40.000 tỷ đồng. Ngay lập tức, năng lực triển khai dự án được cải thiện rõ rệt.

Chỉ trong đầu năm 2025, VEC đã đồng loạt triển khai 3 dự án lớn, bao gồm: Mở rộng cao tốc TP.Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây; Mở rộng cao tốc Nội Bài - Lào Cai (đoạn Yên Bái - Lào Cai); Tham gia đầu tư theo phương thức PPP ở một số dự án vành đai, cao tốc mới. Dự kiến năm 2026, doanh nghiệp sẽ tiếp tục triển khai thêm nhiều dự án khác. Điều này cho thấy khi được trao đủ nguồn lực, DNNN hoàn toàn có thể tăng tốc, đảm nhận khối lượng công việc rất lớn.

Từ thực tiễn đó, chúng tôi rút ra ba vấn đề quan trọng. Thứ nhất, vai trò của kinh tế nhà nước hiện nay không chỉ là “chủ đạo”, mà phải tiên phong, mở đường, dẫn dắt phát triển. Muốn vậy, cơ chế phải tạo điều kiện để DNNN có đủ năng lực cạnh tranh thực sự. Thứ hai, lĩnh vực hạ tầng giao thông, đặc biệt là cao tốc, là “đòn bẩy” trực tiếp cho tăng trưởng hai con số. Tác động thể hiện ở cả hai chiều: Trực tiếp thông qua hiệu quả đầu tư, quản lý, khai thác cao tốc; gián tiếp thông qua thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng, liên kết vùng. Thứ ba, DNNN cần chuyển từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”.

Tuy nhiên, quá trình triển khai thực tế cũng đặt ra nhiều áp lực: tiến độ, chất lượng, chi phí dự án ngày càng cao. Vì vậy, yêu cầu cấp thiết là cơ chế phân cấp, phân quyền rõ ràng hơn; chủ động hơn về vốn và công tác chuẩn bị đầu tư; Ứng dụng công nghệ quản trị hiện đại trong quản lý dự án.

Từ đó, chúng tôi kiến nghị một số nội dung: DNNN không cần giữ vai trò ở mọi lĩnh vực, mà tập trung vào các ngành, lĩnh vực then chốt, trụ cột của nền kinh tế; Bảo đảm quyền tự chủ của DNNN trong cơ chế thị trường, đi kèm minh bạch và trách nhiệm giải trình; Thu hẹp lĩnh vực nhà nước cần duy trì vốn, đẩy mạnh sắp xếp, cổ phần hóa, hoàn thiện thể chế để DNNN dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; tin tưởng giao nhiệm vụ lớn cho các DNNN nòng cốt, có vai trò xương sống trong các ngành chiến lược.

Bà Phạm Chi Lan, Chuyên gia kinh tế:

“Sát cánh” để sử dụng hiệu quả nhất nguồn lực quốc gia

Trong bối cảnh thể chế và định hướng phát triển của Việt Nam, vai trò của kinh tế nhà nước chắc chắn vẫn lớn hơn nhiều quốc gia khác. Và trong kinh tế nhà nước, khu vực DNNN là bộ phận thể hiện rõ nét nhất trong đời sống kinh tế - xã hội. Việc quản trị, phân bổ và sử dụng những nguồn lực này không chỉ là bài toán kinh tế mà còn là vấn đề xã hội nhạy cảm. Điểm đáng ghi nhận của Nghị quyết số 79-NQ/TW là đặt ra yêu cầu quản trị hiệu quả các nguồn lực chung trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, không chỉ trong khu vực DNNN.

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, tiêu chuẩn quản trị doanh nghiệp ngày càng tiệm cận chuẩn mực quốc tế. Doanh nghiệp tư nhân và DNNN đều phải cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, buộc họ phải nâng chuẩn quản trị, hiệu quả sử dụng vốn và năng lực đổi mới. Những nỗ lực cải thiện của DNNN trong thời gian qua là đáng ghi nhận, song quá trình chuyển đổi vẫn còn nhiều thách thức.

Song cũng cần nhìn nhận công bằng những khó khăn của DNNN khi vừa được giao trọng trách ở các lĩnh vực then chốt, vừa chịu ràng buộc bởi nhiều lớp cơ chế quản lý hành chính. Những rào cản trong phê duyệt đầu tư, cơ chế ra quyết định, đổi mới sáng tạo… khiến DNNN khó nắm bắt cơ hội thị trường, chậm chuyển đổi công nghệ. Không ít trường hợp, chỉ một tỷ lệ sở hữu nhỏ của vốn nhà nước cũng có thể làm chậm hoặc “đóng băng” các quyết định đầu tư cần thiết. Vì vậy, bài toán cốt lõi không chỉ nằm ở năng lực doanh nghiệp mà còn ở cơ chế trao quyền và chịu trách nhiệm.

Để DNNN thực sự “dẫn dắt, mở đường” theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW, cần thay đổi căn bản cách đánh giá hiệu quả. Không thể áp đặt tư duy năm nào cũng phải có lãi đối với những dự án mang tính nền tảng, dài hạn, rủi ro cao. Ngay cả doanh nghiệp tư nhân khi đầu tư dài hạn cũng chấp nhận chu kỳ lỗ - lãi, do đó DNNN càng cần không gian chính sách để chấp nhận độ trễ của đầu tư và đổi mới sáng tạo.

Vai trò dẫn dắt của kinh tế nhà nước chỉ có thể phát huy khi DNNN được trao đủ quyền chủ động để hợp tác, liên kết với khu vực tư nhân và nhà đầu tư nước ngoài trên nền tảng bình đẳng, bổ trợ lẫn nhau. Nội lực trong nước là trụ cột của tự chủ, tự cường kinh tế, trong khi Việt Nam đã hình thành những doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn, có năng lực công nghệ và tài chính đáng kể.

Thực tiễn cho thấy, nếu thiếu sự phân công và liên kết, các dự án đầu tư lớn trong hạ tầng, công nghiệp nền tảng có thể dẫn tới phụ thuộc vào doanh nghiệp nước ngoài, làm suy yếu nội lực. Vì vậy, cần cơ chế để DNNN, doanh nghiệp tư nhân và cơ quan hoạch định chính sách cùng phối hợp, phân vai rõ ràng, tránh dàn trải, trùng lặp, tập trung nguồn lực cho những khâu then chốt tạo năng lực cạnh tranh dài hạn.

Phát triển kinh tế không thể chỉ là câu chuyện cạnh tranh giữa các “ông lớn”. Kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân cần “sát cánh” để sử dụng hiệu quả nhất nguồn lực quốc gia, vì lợi ích chung của nền kinh tế. Thay vì đầu tư dàn trải, cần phân công rõ ràng, ai làm tốt khâu nào thì tập trung khâu đó, tránh lãng phí, bỏ lỡ cơ hội.

Tinh thần cốt lõi không phải là khu vực nào thắng - khu vực nào thua, mà là cả nền kinh tế cùng mạnh lên. Kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân cần được đặt trong quan hệ cộng hưởng, bổ trợ lẫn nhau, hướng tới mục tiêu một nền kinh tế tự chủ, có sức cạnh tranh cao và phát triển bền vững. Trong đó, nhà nước đóng vai trò tiên phong đầu tư vào các lĩnh vực chiến lược, tạo nền tảng ban đầu, sau đó từng bước nhường lại cho thị trường khi khu vực tư nhân đủ năng lực tiếp quản. Kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân không phải là cuộc chơi “ai thắng - ai thua”, mà có thể cùng thắng, cùng phát triển trên nền tảng hợp tác và phân công hợp lý, hướng tới mục tiêu cuối cùng là thịnh vượng của đất nước và người dân Việt Nam.

Võ Giang (thoibaonganhang.vn)