Hà Nội đang xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo 1.000 nghiên cứu sinh giai đoạn 2026-2030 nhằm phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao, trực tiếp tham gia giải quyết các “bài toán lớn” của Thủ đô. Trao đổi với phóng viên, Giáo sư, Tiến sĩ

 

20250611-dsc_5878.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Bí thư Đảng ủy Đại học Bách khoa Hà Nội

- Thành phố Hà Nội đang xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo 1.000 nghiên cứu sinh giai đoạn 2026-2030 gắn với các bài toán lớn của Thủ đô. Nhà trường đánh giá như thế nào về chủ trương này? Nếu chính sách được triển khai trong thực tiễn sẽ tác động ra sao đến chất lượng đào tạo tiến sĩ và hoạt động nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo?

Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn:

Đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, đặc biệt ở bậc tiến sĩ trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ, là xu hướng được nhiều quốc gia phát triển ưu tiên. Hoạt động này không chỉ tạo ra tri thức mới mà còn thúc đẩy nghiên cứu sáng tạo, chuyển giao công nghệ, góp phần xây dựng nền khoa học tự chủ, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội bền vững và tăng cường hội nhập quốc tế.

Trong bối cảnh đó, chủ trương của thành phố Hà Nội xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo nghiên cứu sinh gắn với các bài toán lớn và các điểm nghẽn phát triển của Thủ đô là rất phù hợp với xu thế chung của thế giới cũng như nhu cầu thực tiễn của Việt Nam. Khi việc đào tạo tiến sĩ được gắn với các vấn đề cụ thể của đời sống kinh tế - xã hội, các đề tài nghiên cứu sẽ có định hướng rõ ràng hơn, có địa chỉ ứng dụng cụ thể và có khả năng lan tỏa rộng rãi.

Từ góc độ các cơ sở giáo dục đại học, chính sách này có thể tạo ra tác động tích cực đối với chất lượng đào tạo tiến sĩ. Nghiên cứu sinh không chỉ tập trung vào các vấn đề học thuật thuần túy mà còn hướng tới giải quyết những thách thức thực tiễn của đô thị lớn như Hà Nội. Điều này giúp nâng cao giá trị của các công trình nghiên cứu, đồng thời góp phần thúc đẩy hoạt động khoa học công nghệ trong các trường đại học.

Ngoài ra, chương trình cũng tạo điều kiện để các trường mở rộng hợp tác quốc tế. Khi các đề tài nghiên cứu có mục tiêu rõ ràng và gắn với các bài toán lớn của thành phố, các trường có thể thu hút thêm chuyên gia giỏi trong và ngoài nước tham gia nghiên cứu, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh. Đây cũng là yếu tố quan trọng giúp nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ và thúc đẩy hệ sinh thái nghiên cứu khoa học trong các cơ sở giáo dục đại học.

20260110-nkz_7223.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Bí thư Đảng ủy Đại học Bách khoa Hà Nội trình bày tham luận tại Hội nghị gặp mặt chuyên gia, nhà khoa học, các trường Đại học, Cao đẳng, doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố tháng 1-2026

- Dự thảo chính sách đưa ra yêu cầu khá cụ thể về công bố khoa học quốc tế đối với nghiên cứu sinh. Ví dụ, với lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ phải có ít nhất hai bài báo đăng trên các tạp chí quốc tế uy tín thuộc danh mục Q1 hoặc Q2. Giáo sư đánh giá như thế nào về yêu cầu này? Đồng thời, xin Giáo sư chia sẻ thêm về những thuận lợi và khó khăn trong việc công bố quốc tế của nghiên cứu sinh hiện nay.

Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn:

Theo tôi, yêu cầu về số lượng và chất lượng các bài báo đăng trên tạp chí quốc tế uy tín là một chỉ số mục tiêu mang tính định lượng khá rõ ràng khi giao nhiệm vụ nghiên cứu. Đây là tiêu chí thường được sử dụng trong đào tạo tiến sĩ ở nhiều quốc gia nhằm bảo đảm chuẩn mực khoa học và khẳng định chất lượng nghiên cứu.

Tuy nhiên, cần nhìn nhận rằng mục tiêu của chương trình đào tạo 1.000 tiến sĩ của Hà Nội không chỉ dừng lại ở việc tăng số lượng bài báo quốc tế. Mục tiêu lớn hơn là đào tạo được đội ngũ chuyên gia có đủ năng lực đóng góp cho sự phát triển của Thủ đô. Điều đó bao gồm khả năng chủ trì hoặc tham gia giải quyết những vấn đề lớn và những điểm nghẽn trong quá trình phát triển đô thị.

Chẳng hạn, Hà Nội đang phải đối mặt với nhiều thách thức như ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, ngập úng đô thị, trật tự xây dựng, quản lý đất đai hay an toàn thực phẩm. Những vấn đề này đòi hỏi các giải pháp khoa học và công nghệ mang tính liên ngành và có tính ứng dụng cao. Vì vậy, các sản phẩm nghiên cứu như giải pháp kỹ thuật, công nghệ mới hay thiết bị phục vụ quản lý và vận hành đô thị mới chính là giá trị trực tiếp và thiết thực của chương trình.

Trong khuôn khổ chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh, ngoài việc đặt ra các yêu cầu về công bố khoa học, thành phố cũng có thể hỗ trợ để nghiên cứu sinh tham gia các hội nghị, hội thảo khoa học trong nước và quốc tế. Đây là cơ hội để họ mở rộng tầm nhìn học thuật, tiếp cận các xu hướng nghiên cứu mới, đồng thời xây dựng mạng lưới hợp tác với các nhà khoa học và đối tác nghiên cứu trong và ngoài nước.

Một môi trường nghiên cứu cởi mở, có sự kết nối quốc tế mạnh mẽ sẽ giúp nghiên cứu sinh nâng cao năng lực nghiên cứu và tăng khả năng công bố quốc tế. Quan trọng hơn, họ có thể tiếp cận những kinh nghiệm và phương pháp nghiên cứu tiên tiến, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ tại Việt Nam.

1.jpg
Sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội nghiên cứu khoa học

- Theo Giáo sư, cơ chế phối hợp giữa thành phố và các trường đại học cần được thiết kế như thế nào để bảo đảm kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng trong thực tiễn?

Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn:

Để các kết quả nghiên cứu thực sự được ứng dụng, trước hết thành phố cần xây dựng một cơ chế định hướng nghiên cứu rõ ràng. Một trong những giải pháp có thể xem xét là thành lập hội đồng định hướng các nhiệm vụ nghiên cứu, trong đó xác định các giải pháp, công nghệ và sản phẩm cần thiết để giải quyết các điểm nghẽn lớn của thành phố.

Trên cơ sở định hướng đó, các trường đại học, người hướng dẫn hoặc chính nghiên cứu sinh có thể đề xuất các hướng nghiên cứu cụ thể phù hợp với mục tiêu của chương trình. Hội đồng sẽ thực hiện việc đánh giá, lựa chọn và quyết định tài trợ cho các đề tài đáp ứng yêu cầu, đồng thời theo dõi, giám sát quá trình triển khai thông qua các báo cáo định kỳ.

Để chương trình hỗ trợ đào tạo nghiên cứu sinh được triển khai thực chất, minh bạch và hiệu quả, điều quan trọng không chỉ nằm ở việc lựa chọn phương án xét chọn nào – chẳng hạn cơ chế chuyên gia độc lập kết hợp với hội đồng hay cơ chế hội đồng – mà còn ở việc tổ chức quy trình quản lý trên nền tảng số. Toàn bộ các bước từ nộp hồ sơ, đánh giá, phê duyệt đến báo cáo tiến độ và nghiệm thu kết quả cần được thực hiện thông qua hệ thống dữ liệu và quản trị số hiện đại.

Bên cạnh đó, việc đánh giá chuyên môn nên được thực hiện theo nguyên tắc đánh giá đồng cấp (peer review), bảo đảm tính khách quan và công bằng. Điều này sẽ giúp hạn chế các cơ chế xin - cho và tạo niềm tin cho các nhà khoa học tham gia chương trình.

Về mặt chuyên môn, thành phố cần thành lập hội đồng định hướng nhiệm vụ, giải pháp, công nghệ và sản phẩm nghiên cứu ứng dụng trong giải quyết các điểm nghẽn lớn. Các đại học, người hướng dẫn hoặc nghiên cứu sinh đề xuất thành phố hỗ trợ cho các hướng nghiên cứu đáp ứng yêu cầu của chương trình. Hội đồng đánh giá, quyết định tài trợ và giám sát theo kế hoạch và báo cáo định kỳ.

Song hành với chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh, thành phố cũng cần có chính sách hỗ trợ các trường đại học trong việc thu hút các nhà khoa học có uy tín quốc tế đến giảng dạy, tham gia nghiên cứu và đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng đào tạo mà còn thúc đẩy hợp tác quốc tế trong giải quyết các vấn đề lớn của Thủ đô.

dn-nb-san-don-nhan-luc-bk.jpg
2.jpg
Các doanh nghiệp Nhật Bản săn đón nhân lực chất lượng cao của Đại học Bách khoa Hà Nội

- Ngoài hỗ trợ tài chính trực tiếp cho nghiên cứu sinh, theo Giáo sư, thành phố cần thêm những cơ chế nào để việc đào tạo 1.000 nghiên cứu sinh giai đoạn 2026-2030 đạt hiệu quả và góp phần phát triển nguồn nhân lực tinh hoa?

Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn:

Các cơ chế hợp tác 3 nhà (Hà Nội - Nhà trường - Doanh nghiệp) cần được thúc đẩy song song với chương trình này, trong đó cần sớm triển khai chính sách hợp tác công tư mạnh mẽ nhằm xây dựng các trung tâm nghiên cứu xuất sắc hoặc nâng cấp một số phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu hiện có của các đại học lên mức hiện đại và xây dựng các trung tâm chế thử liên ngành. Đây là cơ sở tạo dựng nền tảng đủ mạnh cho hoạt động nghiên cứu bao gồm thu hút chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước tham gia nghiên cứu, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh.

Một yếu tố không kém phần quan trọng là chính sách sử dụng và đãi ngộ sau khi nghiên cứu sinh tốt nghiệp. Nếu chúng ta chỉ tập trung đào tạo mà không có cơ chế giữ chân, tạo điều kiện để các tiến sĩ phát huy năng lực thì mục tiêu phát triển nguồn nhân lực tinh hoa sẽ rất khó đạt được. Vì vậy, cần có các chính sách phù hợp để những người được đào tạo bài bản có thể tiếp tục đóng góp cho sự phát triển của Thủ đô.

Tôi tin rằng, nếu chương trình được thiết kế và triển khai theo tinh thần “bài toán lớn, mục tiêu rõ ràng và địa chỉ ứng dụng - quản trị trên nền tảng số hiện đại - đại học và doanh nghiệp cùng tổ chức - quốc tế đồng hành”, Hà Nội không chỉ đào tạo thêm những người có học vị tiến sĩ. Quan trọng hơn, thành phố sẽ hình thành một thế hệ nhà khoa học và chuyên gia có khả năng tạo ra công nghệ, giải pháp và sản phẩm cụ thể, đồng thời có năng lực tổ chức và điều phối các nhiệm vụ nghiên cứu lớn, thiết thực phục vụ cho sự phát triển bền vững của Thủ đô.

 

Thu Hằng (hanoimoi.vn)