Người dân Làng phong Quy Hòa (tỉnh Gia Lai) đồng thuận vì bước đi tất yếu của sự phát triển, nhưng phía sau cái gật đầu ấy là nỗi lưu luyến khó gọi tên.

Làng phong Quy Hòa (Gia Lai) sắp khép lại hành trình gần một thế kỷ tồn tại để nhường chỗ cho quy hoạch phát triển đô thị. Người dân nơi đây đều đồng thuận với chủ trương của Nhà nước, bởi họ hiểu đó là bước đi tất yếu của sự phát triển. Thế nhưng, phía sau những cái gật đầu ấy là nỗi lưu luyến khó gọi thành tên.

Bởi nơi họ sắp rời đi không chỉ là vài trăm mái nhà cũ dưới chân núi Xuân Vân, mà còn là nơi đã cưu mang họ giữa những năm tháng bị kỳ thị, trao cho họ một cuộc đời thứ hai, gieo mầm hạnh phúc cho những số phận từng tưởng đã bị cuộc đời bỏ quên.

Ngổn ngang trước ngày rời quê

Chiều ở Quy Hòa vẫn đẹp như cách nó đã bình yên suốt gần một thế kỷ. Biển xanh lặng lẽ ôm lấy thung lũng nhỏ nằm lọt thỏm giữa bốn bề núi đá. Những hàng dừa già nghiêng bóng xuống con đường bê tông ven biển, nơi từng bước chân người dân đã mòn theo năm tháng.

Xa xa, từng đợt sóng vẫn đều đặn xô vào bờ cát trắng, âm thanh quen thuộc đến mức nhiều người trong làng bảo rằng, chỉ cần nghe tiếng sóng cũng biết mình đang ở nhà.

Khung cảnh ấy dường như không có gì thay đổi, chỉ có lòng người là khác.

Làng phong Quy Hòa (Gia Lai) nằm bình yên bên chân sóng sắp khép lại hành trình gần một thế kỷ tồn tại.
Làng phong Quy Hòa (Gia Lai) nằm bình yên bên chân sóng sắp khép lại hành trình gần một thế kỷ tồn tại.

Những ngày gần đây, dưới những mái hiên cũ kỹ, trên những chiếc xe lăn bạc màu vì nắng gió, câu chuyện của người dân không còn xoay quanh mùa cá, bữa cơm hay những cơn đau trái gió trở trời của tuổi già. Thay vào đó là một câu hỏi được nhắc đi nhắc lại trong gần như mọi cuộc gặp gỡ: “Bao giờ mình chuyển đi?”

Thông tin quy hoạch Khu đô thị du lịch nghỉ dưỡng quốc tế Ghềnh Ráng - Vũng Chua, trong đó có phương án di dời Bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hòa cùng khu dân cư đặc biệt đã nhanh chóng lan khắp ngôi làng nhỏ. Với nhiều nơi, đó chỉ là một thông tin quy hoạch. Nhưng với gần 300 hộ dân đang sinh sống ở đây, tin tức ấy giống như lời báo trước về một cuộc chia tay mà ai cũng biết sẽ đến, chỉ chưa biết chính xác vào ngày nào.

Điều đặc biệt là không ai phản đối. Những người từng đi qua đủ đầy đau đớn của bệnh tật và sự kỳ thị hiểu hơn ai hết rằng, cuộc sống phải thay đổi để phát triển. Họ biết những căn nhà đã xuống cấp sẽ được thay bằng nơi ở khang trang hơn. Người già sẽ được chăm sóc trong điều kiện tốt hơn. Những đứa trẻ lớn lên sẽ có môi trường thuận lợi hơn.

100% cán bộ bệnh viện, bệnh nhân và người dân đều đồng thuận với chủ trương của Nhà nước, nhưng sự đồng thuận ấy không xóa đi cảm giác nghèn nghẹn mỗi khi nhắc đến hai chữ “di dời”.

Bởi với họ, rời Quy Hòa không đơn thuần là chuyển chỗ ở, đó là rời quê hương.

Tại một vị trí quen thuộc nằm giữa trung tâm làng phong, câu chuyện của người dân thời gian qua vẫn là câu hỏi “Khi nào di dời?”
Tại một vị trí quen thuộc nằm giữa trung tâm làng phong, câu chuyện của người dân thời gian qua vẫn là câu hỏi “Khi nào di dời?”

Trong căn nhà nhỏ nằm dưới những cây cổ thụ đã hơn trăm năm tuổi, cụ Nguyễn Thị Muối nằm lặng trên chiếc giường gỗ cũ. Ở tuổi 94, đôi chân không còn đủ sức bước đi chỉ có thể nằm im một chỗ, nhưng ký ức thì vẫn nguyên vẹn như ngày đầu cụ được mẹ dắt vào làng phong khi mới mười ba tuổi.

Gần 80 năm sống ở đây khiến ký ức về nơi mình sinh ra dần nhạt đi theo thời gian. Ngược lại, từng con đường, từng hàng dừa, từng bãi cát ở Quy Hòa lại trở thành máu thịt.

Nghe hỏi chuyện sắp chuyển đến nơi ở mới, cụ mỉm cười rất hiền - “Chúng tôi đồng ý chứ. Nhà nước lo cho dân thì ai mà không mừng”- nói đến đó, giọng cụ chùng xuống: “Nhưng buồn lắm…

Đôi mắt già nua nhìn rất lâu ra khoảng sân trước nhà, nơi ánh nắng cuối chiều đang len qua những tán cây.

Tôi đến đây khi còn là con bé. Lấy chồng ở đây. Sinh con ở đây. Chôn chồng cũng ở đây. Gần cả đời người rồi, giờ bảo đi thì sao không buồn được.

Không phải nỗi buồn của người mất một căn nhà, mà là nỗi buồn của người sắp rời khỏi nơi duy nhất từng dang tay cưu mang mình khi tận cùng mặc cảm bởi căn bệnh từng khiến ai cũng dè dặt.

Không chỉ cụ Muối, cảm giác ấy còn hiện hữu trong gần như mọi mái nhà của làng phong.

Đi dọc con đường nhỏ rợp bóng dừa, điều dễ bắt gặp nhất những ngày này không phải cảnh người dân tất bật thu dọn đồ đạc, mà là những ánh mắt lặng lẽ nhìn thật lâu về khung cảnh đã gắn bó cả đời. Những cụ già vốn chỉ ngồi trước hiên nay chống gậy đi dạo nhiều hơn.

Đi dọc con đường nhỏ rợp bóng dừa ở làng phong, điều dễ bắt gặp nhất những ngày này là những ánh mắt lặng lẽ nhìn thật lâu về khung cảnh đã gắn bó cả đời.
Đi dọc con đường nhỏ rợp bóng dừa ở làng phong, điều dễ bắt gặp nhất những ngày này là những ánh mắt lặng lẽ nhìn thật lâu về khung cảnh đã gắn bó cả đời.

Có người chậm rãi ra bãi biển mỗi chiều, ngồi hàng giờ nhìn sóng. Có người đứng rất lâu dưới gốc bàng cổ thụ trước nhà, đưa tay vuốt nhẹ lớp vỏ xù xì như muốn ghi nhớ từng thớ gỗ. Họ biết rồi sẽ đến ngày những con đường này không còn là nơi mình thức dậy mỗi sáng.

Chị Nguyễn Thị Hoa, một giáo viên tiểu học sinh ra và lớn lên ở Quy Hòa, được nuôi dưỡng trong vòng tay của con người làng phong. Tuổi thơ của chị gắn với những buổi chạy chân trần trên bãi cát, những chiều theo mẹ nhặt củi dưới chân núi, những ngày đến trường rồi trở về trong tiếng chuông nhà nguyện ngân vang giữa thung lũng.

Gần nửa thế kỷ, mọi dấu mốc quan trọng nhất của cuộc đời chị đều diễn ra ở mảnh đất này.

Đến nơi mới tôi biết chắc chắn sẽ tốt hơn. Điều khiến tôi thấy khó nhất là phải rời những con người đã sống với mình từ nhỏ đến giờ”-Chị đưa mắt nhìn sang phía nhà đối diện

Nhà bên kia có cụ đau thì mình chạy sang nấu cơm. Nhà này có đám giỗ thì cả xóm cùng phụ. Có người mất thì cả làng tiễn. Ở đây không ai sống riêng một mình.”

Ngừng lại vài giây, chị cười nhưng giọng đã nghèn nghẹn: “Mai này đến nơi mới, việc đi dạy của tôi sẽ gặp nhiều khó khăn vì khoảng cách con đường xa hơn. Và điều chắc chắn rằng những con người làng phong ở nơi mới, chắc sẽ nhớ tiếng gọi nhau mỗi sáng.

Điều khiến Quy Hòa khác với rất nhiều khu dân cư khác không nằm ở những mái nhà nằm sát biển hay khung cảnh đẹp như tranh. Giá trị lớn nhất của ngôi làng này nằm ở mối quan hệ giữa những con người đã cùng đi qua tận cùng bất hạnh.

Ở đây, rất ít người còn nhớ quê gốc của hàng xóm, không ai hỏi ngày trước anh đến từ tỉnh nào, không ai nhắc người kia từng bị bệnh nặng ra sao, càng không ai đào lại quá khứ từng bị gia đình ruồng bỏ. Tất cả những điều ấy dường như đã bị sóng biển bào mòn theo năm tháng.

Điều còn lại chỉ là nghĩa xóm giềng, là bát cháo mang sang lúc nửa đêm khi hàng xóm sốt cao, là cánh tay dìu nhau đến bệnh viện, là những buổi chiều ngồi trước hiên, kể đi kể lại một câu chuyện đã thuộc lòng nhưng chẳng ai thấy chán.

Có lẽ chính vì vậy mà người dân nơi đây vẫn thường nói vui, Quy Hòa không giống một khu dân cư, mà giống một đại gia đình.

Làng phong Quy Hòa không chỉ là một khu dân cư, có nhiều sự liên kết tinh thần giống như một đại gia đình.
Làng phong Quy Hòa không chỉ là một khu dân cư, có nhiều sự liên kết tinh thần giống như một đại gia đình.

Ông Lê Văn Phong (77 tuổi) sống ở làng phong Quy Hòa đến nay hơn 57 năm cũng có một cách nhìn nhận như vậy.

Theo ông, gần một thế kỷ qua, nơi đây không chỉ là nơi điều trị bệnh, mà còn là mái nhà của hàng nghìn số phận từng bị đẩy đến tận cùng mặc cảm. Từ những ngày đầu thành lập, rồi qua chiến tranh, qua những giai đoạn khó khăn nhất của đất nước, cộng đồng ấy đã tự nâng đỡ nhau để cùng sống, cùng chữa lành cả những vết thương trên thân thể lẫn trong tâm hồn.

Có lẽ vì thế mà khi nhắc đến chuyện di dời, điều khiến nhiều người băn khoăn nhất không phải là căn nhà mới sẽ rộng bao nhiêu mét vuông, hay con đường mới sẽ đẹp đến đâu. Họ chỉ lo một điều rất giản dị: Liệu nơi ở mới có còn giữ được tình làng nghĩa xóm như nơi này? Liệu những người già vốn chỉ cần chống gậy vài bước là sang được nhà hàng xóm có còn sống gần nhau? Liệu mỗi sáng thức dậy họ còn được nghe tiếng sóng biển quen thuộc, tiếng chuông nhà nguyện vọng từ cuối thung lũng hay không?

Những câu hỏi ấy không ai trả lời được, bởi có những giá trị không thể mang lên xe để chuyển đi. Một mái nhà có thể xây lại. Một con đường có thể mở mới. Nhưng gần một thế kỷ ký ức thì không.

Buổi chiều dần buông xuống Quy Hòa. Nắng cuối ngày trải thành một dải vàng óng trên mặt biển. Vài cụ già chậm rãi trở về sau cuộc dạo bộ quen thuộc. Có người chống gậy. Có người ngồi xe lăn. Có người bàn tay chỉ còn những đốt ngón cụt ngủn vẫn cố bám vào lan can nhìn thật lâu về phía biển.

Không ai nói với ai, nhưng dường như tất cả đều đang cố ghi nhớ từng góc nhỏ của ngôi làng đã cưu mang mình gần trọn cuộc đời. Có lẽ, chỉ đến khi đứng trước ngày phải rời đi, họ mới nhận ra tình yêu dành cho Quy Hòa lớn đến nhường nào. Bởi nơi ấy không phải nơi họ sinh ra, nhưng lại là nơi đã sinh ra cuộc đời thứ hai của họ.

Đó cũng là lý do, phía sau sự đồng thuận với chủ trương di dời không phải là sự miễn cưỡng, mà là một cuộc chia tay đầy biết ơn. Biết ơn mảnh đất đã ôm lấy họ trong những tháng năm khốn khó nhất, để rồi hôm nay, khi chuẩn bị bước sang một chặng đường mới, điều duy nhất họ mong mang theo không phải những viên gạch hay mái ngói cũ, mà là ký ức về một nơi từng dạy họ tin rằng, sau mọi đau thương, con người vẫn có thể tìm thấy một mái nhà.

Gia đình bà Trần Thị Tâm (60 tuổi) có 3 đời sinh sống ở Làng phong Quy Hòa, đến đời bà hiện nay đã 107 năm.
Gia đình bà Trần Thị Tâm (60 tuổi) có 3 đời sinh sống ở Làng phong Quy Hòa, đến đời bà hiện nay đã 107 năm.

Ký ức về một miền cưu mang

Nếu chỉ ghé Quy Hòa một buổi chiều, rất dễ nghĩ đây đơn thuần là một làng biển bình yên nằm nép mình dưới chân núi Xuân Vân. Biển xanh, cát trắng, những hàng dừa cao vút rì rào trong gió. Trẻ nhỏ đạp xe trên con đường bê tông chạy dọc bờ biển. Người già thong thả ngồi trước hiên nhà ngắm sóng. Xa hơn một chút là nhà nguyện cổ kính, những dãy nhà nhuốm màu thời gian và những tán cây cổ thụ gần trăm năm tuổi vẫn âm thầm che bóng cho cả một vùng ký ức.

Khó ai hình dung, gần một thế kỷ trước, nơi đẹp như tranh ấy từng là điểm cuối của biết bao số phận.

Năm 1929, làng phong Quy Hòa được thành lập để tiếp nhận những bệnh nhân mắc bệnh phong từ khắp mọi miền đất nước. Ngày ấy, khi y học còn chưa đủ phát triển, căn bệnh này gần như đồng nghĩa với bản án bị tách khỏi cộng đồng. Không ít người vừa nhận kết quả mắc bệnh đã mất luôn gia đình, mất quê hương.

Có người bị đưa đến Quy Hòa khi mới mười mấy tuổi, có người đang tuổi thanh xuân, có người vừa lập gia đình. Họ đến đây với một chiếc túi nhỏ đựng vài bộ quần áo và một trái tim đầy những vết thương không bác sĩ nào có thể nhìn thấy. Những vết thương ấy không do bệnh phong gây ra mà do sự kỳ thị, do những ánh mắt sợ hãi, do những lần bị xua đuổi, do cảm giác bị chính người thân xem như đã chết.

Cụ Nguyễn Thị Muối vẫn nhớ như in buổi sáng mẹ đưa mình rời quê. Năm ấy cụ mới 13 tuổi. Trước đó một năm, những nốt đỏ li ti xuất hiện trên cánh tay rồi lan dần khắp cơ thể. Bác sĩ kết luận mắc bệnh phong. Chỉ sau một đêm, cuộc đời cô bé thay đổi hoàn toàn - Không còn được ngồi ăn cùng cha mẹ, không còn được ngủ trong căn nhà quen thuộc.

Một căn chòi nhỏ được dựng cách nhà chính hàng chục mét để cô sống một mình. Ngày hai bữa, người thân đặt cơm trước cửa rồi gọi vọng vào. Ngay cả khi nhớ mẹ đến bật khóc, cô bé cũng chỉ dám đứng từ xa nhìn theo bóng mẹ khuất dần sau hàng cau.

Tôi từng hỏi mẹ vì sao không cho tôi ở cùng nữa. Mẹ không trả lời”, cụ kể rất chậm, đôi mắt đục màu thời gian vẫn ánh lên nỗi buồn của cô bé năm nào - “Bây giờ già rồi, tôi không còn trách ai nữa. Hồi đó người ta sợ bệnh, đâu hiểu như bây giờ.

Một năm sau, mẹ đưa cô bé chưa tuổi trăng rằm vào Quy Hòa. Đó là lần cuối cùng cụ nhìn thấy gia đình. Điều kỳ lạ là, thay vì oán trách, cụ luôn nói về ngày ấy bằng lòng biết ơn, bởi nếu không có chuyến đi tưởng như định mệnh ấy, có lẽ bà đã không còn cơ hội sống đến hôm nay.

Tôi đến đây tưởng đời mình hết rồi, ai ngờ lại có gia đình”- cụ mỉm cười. Gia đình mà cụ nhắc đến không phải cha mẹ hay anh chị em ruột. Đó là Quy Hòa, chính tại mảnh đất này, cô gái mười ba tuổi năm nào lớn lên, gặp người đàn ông cùng mang trên mình căn bệnh phong rồi nên duyên vợ chồng. Sáu người con lần lượt ra đời.

Dẫu cuộc sống còn nhiều mất mát, dẫu bệnh tật vẫn không ngừng thử thách, nhưng nơi đây đã cho cụ Muối điều mà cụ từng nghĩ sẽ không bao giờ có được: một mái ấm.

Khó ai hình dung, gần một thế kỷ trước, nơi đẹp như tranh ấy từng là điểm cuối của biết bao số phận.
Khó ai hình dung, gần một thế kỷ trước, nơi đẹp như tranh ấy từng là điểm cuối của biết bao số phận.

Không riêng cụ Muối, rất nhiều mái nhà ở Quy Hòa bắt đầu bằng những câu chuyện như thế. Đó là những cuộc gặp gỡ giữa những con người từng nghĩ mình sẽ sống cô độc đến hết đời. Họ gặp nhau trong bệnh viện, cùng trải qua những lần điều trị, cùng động viên nhau vượt qua những cơn đau, rồi thương nhau lúc nào không hay.

Anh Phạm Văn Sung là một trong những người như thế. Mắc bệnh từ nhỏ, anh từng bị gia đình dựng cho một căn chòi ngoài rẫy để sống tách biệt. Đến khi bệnh trở nặng, anh được đưa vào Quy Hòa điều trị. Nơi tưởng chỉ để chữa bệnh lại trở thành nơi anh tìm thấy hạnh phúc của đời mình.

Năm 2011, chị Ka Wẹ từ Lâm Đồng tìm đến Quy Hòa trong tình cảnh đổ vỡ hôn nhân và mang theo mặc cảm của một người mắc bệnh phong. Cuộc gặp gỡ rất tình cờ bắt đầu từ… một cục sạc điện thoại. Rồi những cuộc trò chuyện nối tiếp nhau. Người phụ nữ từng nghĩ sẽ không còn dám yêu thêm một lần nữa lại tìm được bến đỗ bình yên.

Họ không cưới nhau bằng những lời hứa lớn lao, họ đến với nhau bởi cả hai đều hiểu cảm giác bị cuộc đời bỏ lại phía sau. Có lẽ, chỉ những người từng bước qua tận cùng cô độc mới biết trân trọng một bàn tay chìa ra đúng lúc.

Đi dọc những con đường nhỏ trong làng, không khó để bắt gặp những gia đình như vậy. Có những cặp vợ chồng đã sống với nhau ba, bốn chục năm. Có những đứa trẻ khỏe mạnh lớn lên từ những mái nhà từng đầy mặc cảm. Có những người con của bệnh nhân phong hôm nay trở thành điều dưỡng, hộ lý, tiếp tục chăm sóc chính những người đã nuôi mình khôn lớn. Một cộng đồng đặc biệt cứ thế hình thành, lặng lẽ và bền bỉ qua nhiều thế hệ.

Có lẽ điều kỳ diệu nhất mà Quy Hòa tạo nên không phải là chữa khỏi một căn bệnh. Điều kỳ diệu nhất là chữa lành những tâm hồn từng bị tổn thương. Ở đây, người ta không nhìn nhau bằng những bàn tay cụt ngón, không nhìn những vết sẹo, không gọi nhau bằng quá khứ. Họ gọi nhau là ông, là bà, là anh, là chị, là hàng xóm, là người nhà.

Hiện tại Làng phong Quy Hòa đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử để nhường chỗ cho một không gian phát triển mới và người dân nơi đây sẽ đồng lòng mang theo gần một thế kỷ ký ức.
Hiện tại Làng phong Quy Hòa đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử để nhường chỗ cho một không gian phát triển mới và người dân nơi đây sẽ đồng lòng mang theo gần một thế kỷ ký ức.

Gần một thế kỷ trôi qua, bệnh phong đã không còn là căn bệnh đáng sợ như trước. Khoa học phát triển, thuốc điều trị hiệu quả, sự kỳ thị cũng dần lùi vào quá khứ. Nhưng những người từng đi qua thời kỳ đen tối ấy vẫn lựa chọn ở lại Quy Hòa. Không phải vì họ không còn nơi nào để đi mà bởi họ đã tìm được nơi để trở về.

Có người từng nói, quê hương là nơi có người chờ mình. Với những cư dân làng phong, Quy Hòa chính là nơi như thế. Nơi có tiếng sóng biển ru họ ngủ suốt mấy chục năm, có những người hàng xóm sẵn sàng đỡ mình mỗi khi vấp ngã. Có những y, bác sĩ coi bệnh nhân như người thân. Có những đứa trẻ gọi những cụ già neo đơn bằng hai tiếng “ông”, “bà” đầy thân thương.

Vì thế, ngày Quy Hòa hoàn thành sứ mệnh lịch sử để nhường chỗ cho một không gian phát triển mới, điều người dân mang theo sẽ không chỉ là vài món đồ đạc cũ kỹ, họ mang theo gần một thế kỷ ký ức. Mang theo lòng biết ơn đối với mảnh đất từng mở rộng vòng tay đón những con người bị xã hội lãng quên. Và mang theo niềm tin mà chính Quy Hòa đã gieo vào họ từ rất lâu rồi: dù cuộc đời có đẩy con người xuống tận cùng đau khổ, chỉ cần còn tình yêu thương, vẫn luôn có thể bắt đầu một cuộc đời mới.

Đó cũng là di sản lớn nhất mà làng phong Quy Hòa để lại sau gần một thế kỷ tồn tại. Không nằm ở những dãy nhà sẽ được tháo dỡ, không nằm ở con đường ven biển hay những hàng dừa trước gió, mà nằm trong ký ức của những con người từng được nơi này cưu mang. Và có lẽ, chính những ký ức ấy mới là điều không một cuộc di dời nào có thể mang đi.

Nguyễn Gia (vtcnews.vn)