Các nghiên cứu công nghệ tiên tiến tại châu Âu chưa được chuyển hóa tương xứng thành năng lực quốc phòng, khi quá trình triển khai vẫn gặp nhiều trở ngại.

Châu Âu đang sở hữu nền tảng nghiên cứu mạnh trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, máy bay không người lái, robot, công nghệ lượng tử và an ninh mạng. Tuy nhiên, lợi thế này chưa được chuyển hóa tương xứng thành năng lực triển khai trong lĩnh vực quốc phòng.

z7709212621354_82a2ed330fb44a1e6b531d718b2e93be.jpg
Cờ của Liên minh châu Âu tung bay tại trụ sở Ủy ban châu Âu ở Brussels, Bỉ. Ảnh: Xinhua

Theo nghiên cứu mới của tập đoàn tư vấn toàn cầu Boston Consulting Group phối hợp với Tướng Lavigne, cựu Tư lệnh tối cao về Chuyển đổi của NATO, liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương, điểm nghẽn của châu Âu hiện không nằm ở khoa học mà ở khâu ứng dụng và triển khai.

Liên minh châu Âu đang đầu tư 115 triệu euro thông qua chương trình AGILE, quỹ hỗ trợ công nghệ quốc phòng của EU, cho các lĩnh vực công nghệ mới. Dù vậy, nghiên cứu cho rằng vấn đề lớn nhất của châu Âu là chưa thể nhanh chóng đưa kết quả nghiên cứu ra thực tế.

Trong khi châu Âu có nhiều công trình khoa học cơ bản chất lượng cao, Mỹ lại đi nhanh hơn ở khâu bằng sáng chế, thương mại hóa và ứng dụng.

“Châu Âu mạnh ở giai đoạn thăm dò, còn Mỹ vượt trội hơn ở giai đoạn khai thác,” ông Nikolaus Lang, đối tác cấp cao tại Boston Consulting Group, nhận định.

Khoảng cách này thể hiện rõ qua nguồn vốn. Trong 10 năm qua, Mỹ đã đầu tư khoảng 70 tỷ USD vào vốn mạo hiểm cho công nghệ quốc phòng, trong khi châu Âu chỉ đầu tư khoảng 7 tỷ euro. Chênh lệch lớn về nguồn lực khiến châu Âu gặp bất lợi trong việc đưa nghiên cứu thành sản phẩm, đồng thời làm gia tăng khoảng cách về bằng sáng chế và tốc độ triển khai.

Máy bay không người lái là ví dụ điển hình. Trước khi xung đột tại Ukraine nổ ra, không có quân đội châu Âu nào sở hữu quá 2.000 máy bay không người lái. Hiện nay, các bên trong cuộc xung đột sử dụng từ 6 đến 7 triệu chiếc mỗi năm. Sự thay đổi rất nhanh về quy mô cho thấy hệ thống mua sắm quốc phòng của châu Âu khó theo kịp nhu cầu thực tế.

Không chỉ là vấn đề về số lượng, công nghệ máy bay không người lái còn thay đổi rất nhanh. Theo ông Nikolaus Lang, chu kỳ đổi mới của lĩnh vực này chỉ khoảng 3 đến 6 tháng. Điều này khiến việc mua sắm trở nên khó khăn khi thiết bị dễ nhanh chóng lạc hậu.

Ông cũng lưu ý cơ chế mua sắm của châu Âu, vốn được thiết kế cho các khí tài có vòng đời dài, chưa theo kịp tốc độ thay đổi của công nghệ mới.

Một trở ngại khác nằm ở chuỗi cung ứng. Theo nghiên cứu, nhiều công nghệ cốt lõi dùng cho máy bay không người lái hiện vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn cung từ Trung Quốc, khiến châu Âu không chỉ chậm trong triển khai mà còn đối mặt với bài toán phụ thuộc từ bên ngoài.

Ông Nikolaus Lang nhận xét Ukraine đang đổi mới với tốc độ thời chiến, còn châu Âu vẫn vận hành theo nhịp độ thời bình.

So với châu Âu, Mỹ có cơ chế linh hoạt hơn trong mua sắm công nghệ quốc phòng. Theo nghiên cứu, các đơn vị chuyên trách của Mỹ có thể rút ngắn thời gian từ chào giá đến ký hợp đồng xuống còn 60 đến 90 ngày, và đưa công nghệ vào sử dụng trong khoảng hai năm. Châu Âu hiện chưa có hệ thống tương tự ở quy mô đủ lớn.

Trong bối cảnh đó, AGILE cùng các chương trình như EDIRPA - cơ chế thúc đẩy mua sắm quốc phòng chung của EU và ASAP - chương trình hỗ trợ tăng sản lượng đạn dược, được xem là những bước đi nhằm thu hẹp khoảng cách. Những sáng kiến này hướng tới các công ty khởi nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời thúc đẩy mua sắm chung và hỗ trợ sản xuất quốc phòng. Tuy nhiên, ông Nikolaus Lang cho rằng đây mới chỉ là bước khởi đầu.

“Chúng ta cần nhiều sáng kiến hơn nữa để khắc phục tình trạng phân mảnh trong lĩnh vực quốc phòng ở châu Âu,” ông nói, đồng thời lưu ý rằng khoảng 80% hoạt động mua sắm quốc phòng và 90% hoạt động nghiên cứu, phát triển tại châu Âu hiện vẫn do từng quốc gia tự thực hiện.

Theo đánh giá của nghiên cứu, châu Âu không thiếu nhân lực, công ty khởi nghiệp hay các công trình nghiên cứu chất lượng cao. Điều còn thiếu là nguồn vốn đủ lớn và cơ chế đủ nhanh để đưa công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thực tế.

Ông Lang cho rằng quá trình xây dựng một hệ thống công nghệ quốc phòng độc lập cho châu Âu có thể kéo dài từ 5 đến 10 năm.

Tùng Lâm (hanoimoi.vn)