Bão Noru và cách đặt tên các cơn bão

Bão số 4 Noru đang tiến nhanh về các tỉnh miền Trung Việt Nam. Vậy tên bão Noru có nghĩa là gì và tại sao cơn bão có tên?

Cơn bão Noru (tại Việt Nam gọi là cơn bão số 4) được dự báo sẽ là một trong những cơn bão mạnh nhất trong vòng 20 năm trở lại đây, tương tự cơn bão Sangxane năm 2006, bão Ketsana 2009, bão Molave 2020, từng gây thiệt hại nặng ở các tỉnh Trung bộ Việt Nam.

Noru là tên do Hàn Quốc đặt tên. Theo tiếng Hàn Quốc, Noru có nghĩa là con Hoẵng phiên âm là No-ruu.

Việc đặt tên các cơn bão nhiệt đới bắt đầu từ thế kỷ 20 với mục đích tạo thuận lợi cho việc liên lạc giữa các nhà dự báo thời tiết và công chúng trong việc theo dõi và cảnh báo, tránh nhầm lẫn giữa các cơn bão.

Trên thế giới các cơn bão thường mang tên phụ nữ, và sau này cả tên nam giới. Riêng ở Tây Bắc Thái Bình Dương, bão còn mang tên hoa lá, động vật...Trong khi đó, tại Việt Nam, thường đặt tên các cơn bão theo số thứ tự, bắt đầu từ số 1 cho đến lần xuất hiện kế tiếp. Nhiều năm lên tới 13-14 cơn bão.

Dù chưa có thông tin xác minh chính xác nhưng nhiều người cho rằng tên của các bão lần đầu tiên xuất hiện là do một nhà dự báo thời tiết của Australia. Ông đặt tên bão theo tên của những chính trị gia mà ông ghét nhất.

Trong Thế chiến II, các cơn bão nhiệt đới ở Thái Bình Dương được đặt tên không chính thức theo tên của phụ nữ. Nguyên tắc bất thành văn này do đoàn dự báo thời tiết của Lục và Hải quân Mỹ đề ra, và thường lấy tên vợ hoặc bạn gái của các nhà dự báo. Từ năm 1950 đến 1952, các cơn bão ở bắc Đại tây dương được đặt tên theo thứ tự bảng chữ cái (Able-Baker-Charlie- ...), nhưng từ năm 1953, cơ quan khí tượng Mỹ lại chuyển sang dùng hệ tên phụ nữ.

Năm 1979, Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) và Cơ quan khí tượng Mỹ (NWS) thống nhất sử dụng tên bão gồm cả tên nữ và nam giới.

Thông thường, các cơn bão ở lòng chảo đông bắc Thái Bình Dương được đặt theo tên phụ nữ từ năm 1959-1960. Năm 1978, cả hai loại tên đều được sử dụng. Ở vùng bắc Ấn Độ Dương, các bão nhiệt đới không được đặt tên.

Tại Tây Nam Ấn Độ Dương, bão lần đầu có tên vào những năm 1960-1961. Vùng Australia và Nam Thái Bình Dương, tên phụ nữ được lấy làm tên bão từ năm 1964, và 10 năm sau thì tên của nam cũng được dùng.

Bão Noru và cách đặt tên các cơn bão
Tên bão Noru có nghĩa là con Hoẵng

Từ ngày 1/1/2000, các cơn bão ở lòng chảo Tây bắc Thái Bình Dương (bao gồm Việt Nam) được đặt theo một danh sách các tên mới lạ. Những tên mới bổ sung bao gồm các tên châu Á, được lấy từ các nước và vùng lãnh thổ là thành viên của Tổ chức Khí tượng Thế giới trong khu vực. Mỗi trong số 14 thành viên cung cấp 10 cái tên, tạo thành danh sách 140 tên bão.

Những tên này có hai điều khác biệt so với tên bão ở các nơi trên thế giới. Thứ nhất, hầu hết chúng không phải là tên riêng của người, mà thường là tên hoa, động vật, chim, cây cỏ hay thậm chí tên món ăn. Thứ hai, các tên này không được đặt tuần tự theo thứ tự chữ cái, mà theo thứ tự chữ cái của tên các nước.

Các cơn bão đang hình thành ở khu vực này sẽ được Trung tâm Bão nhiệt đới Tokyo thuộc Cơ quan Khí tượng Nhật Bản đặt tên.

Cũng trong khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương, những cái tên riêng của Việt Nam cũng được đặt tên cho các cơn bão. Ví dụ như tên bão "Saomai" vào năm 2006, bão "Saola" vào năm 2012, bão "Halong" vào 2019, bão "Bavi" vào năm 2020... 

https://congthuong.vn/bao-noru-va-cach-dat-ten-cac-con-bao-221144.html