Sống khỏe
13/03/2026 14:38Bác sĩ tim mạch: Đặt stent tại Mỹ tốn 1,5 tỷ đồng, về Việt Nam chỉ 100 triệu
Theo PGS.BS Phillip Trần, một ca đặt stent mạch vành tại Mỹ thường tốn khoảng 30.000-60.000 USD. Trong khi đó, cùng kỹ thuật này tại Việt Nam chỉ khoảng 2.000-4.000 USD.
Ông hiện là chuyên gia tim mạch xâm lấn tại Dignity Health Yavapai Regional Medical Center (Mỹ), đồng thời là Hiệu trưởng Trường Khoa học Sức khỏe, Đại học Nam Cần Thơ.
Khoảng chênh lệch lớn về chi phí khiến vị bác sĩ có nhiều năm làm việc trong hệ thống y tế Mỹ bất ngờ khi trực tiếp chứng kiến nhiều ca can thiệp tim mạch tại Việt Nam. “ Cùng một kỹ thuật điều trị, chi phí tại Việt Nam đôi khi chỉ bằng khoảng một phần mười so với Mỹ ”, PGS Trần nói.

Nhiều kỹ thuật tiệm cận chuẩn quốc tế
Theo PGS Trần, trong khoảng 10–15 năm gần đây, y học Việt Nam có bước phát triển nhanh ở nhiều chuyên ngành sâu. “ Đó là điều tôi ấn tượng ”, ông nói.
Trong lĩnh vực tim mạch, nhiều bệnh viện lớn đã triển khai thường quy các kỹ thuật hiện đại như can thiệp mạch vành qua da, thay van động mạch chủ qua ống thông (TAVR), đặt máy tạo nhịp không dây và điều trị các dị tật tim bẩm sinh phức tạp.
Một số trung tâm tim mạch còn thực hiện can thiệp tim ngay từ giai đoạn bào thai, kỹ thuật vốn chỉ có tại những cơ sở y khoa hàng đầu thế giới.
Ở lĩnh vực ung thư, ngoài phẫu thuật, xạ trị và hóa trị, nhiều bệnh viện triển khai liệu pháp miễn dịch, xét nghiệm sinh học phân tử và y học chính xác nhằm cá thể hóa điều trị cho từng bệnh nhân.
Các bệnh viện tuyến trung ương và tuyến cuối như Viện 108, Bạch Mai, Chợ Rẫy hay Trung ương Huế hiện sở hữu đội ngũ bác sĩ có kinh nghiệm lâm sàng dày dặn, có khả năng xử trí nhiều ca bệnh phức tạp. “ Trong nhiều chuyên ngành sâu, y học Việt Nam đã tiệm cận chuẩn quốc tế” , ông nhận định.
Chi phí điều trị chênh lệch lớn
Theo PGS Trần, khác biệt lớn nhất giữa hai hệ thống y tế nằm ở chi phí điều trị. Tại Mỹ, chi phí y tế thuộc nhóm cao nhất thế giới. Trong khi đó, tại Việt Nam, nhiều kỹ thuật điều trị chỉ tốn khoảng 5–10% so với Mỹ.
Ông đưa ra một số ví dụ, đặt stent mạch vành tại Mỹ thường có giá 30.000–60.000 USD, còn tại Việt Nam khoảng 2.000-4.000 USD (50–100 triệu đồng).
Phẫu thuật tim hở ở Mỹ có thể lên tới 100.000–200.000 USD, trong khi tại Việt Nam khoảng 10.000–20.000 USD (200–500 triệu đồng). Ghép thận tại Mỹ dao động 300.000–500.000 USD, còn ở Việt Nam khoảng 20.000–40.000 USD (500 triệu đến 1 tỷ đồng).
Chi phí điều trị ung thư cũng có khoảng cách lớn. Một phác đồ toàn diện tại Mỹ có thể lên tới vài trăm nghìn USD, trong khi tại Việt Nam thường chỉ khoảng 10–20% mức này. “ Trong nhiều trường hợp, kết quả điều trị vẫn tương đương nếu thực hiện tại các trung tâm lớn ”, ông nói.
Theo PGS Trần, nguyên nhân không chỉ nằm ở giá thuốc hay thiết bị y tế. Tại Mỹ, chi phí nhân lực rất cao. Thu nhập của bác sĩ, điều dưỡng và nhân viên y tế thuộc nhóm cao hàng đầu thế giới.
Ngoài ra, hệ thống bảo hiểm và pháp lý phức tạp khiến các bệnh viện phải chi nhiều cho bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, chi phí pháp lý và bộ máy quản lý hành chính lớn. Những yếu tố này làm chi phí vận hành tăng đáng kể.
Trong khi đó, tại Việt Nam chi phí vận hành thấp hơn, hệ thống bảo hiểm đơn giản hơn. Nhân lực y tế có trình độ chuyên môn tốt nhưng mức thu nhập thấp hơn đáng kể so với Mỹ.

Tiềm năng phát triển du lịch y tế
PGS Trần cho rằng nhiều người vẫn có tâm lý ra nước ngoài chữa bệnh để tiếp cận công nghệ hiện đại hơn. Tuy nhiên điều này không phải lúc nào cũng cần thiết. “ Phẫu thuật và can thiệp phụ thuộc rất nhiều vào tay nghề bác sĩ và kinh nghiệm lâm sàng. Bác sĩ Việt Nam rất khéo tay và linh hoạt ”, ông nói.
Ông đã chứng kiến nhiều ca phẫu thuật tim và ghép tạng phức tạp tại Việt Nam đạt kết quả tương đương các trung tâm lớn ở Mỹ, dù chi phí chỉ bằng khoảng một phần mười.
Một trường hợp ông nhắc tới là bệnh nhân ung thư từng dự định sang Mỹ điều trị với chi phí khoảng 200.000 USD. Sau đó người bệnh điều trị tại Bệnh viện Trung ương Huế với tổng chi phí khoảng 20.000 USD và hồi phục tốt sau thời gian theo dõi dài hạn.
Theo PGS Trần, với lực lượng bác sĩ trẻ đông đảo, được đào tạo tốt và cơ sở vật chất ngày càng được nâng cấp, Việt Nam có nhiều tiềm năng trở thành điểm đến mới của du lịch y tế trong khu vực. “ Lợi thế lớn nhất của Việt Nam là sự kết hợp giữa chi phí hợp lý và chất lượng chuyên môn ngày càng cao ”, ông nói.