Kinh tế
04/03/2026 09:45Thách thức và cơ hội của dòng vốn FDI trong "vòng xoáy" địa chính trị
![]() |
| Năm nay, triển vọng FDI toàn cầu được dự báo có thể phục hồi nhẹ nhưng đầy bất định |
Triển vọng phục hồi nhẹ nhưng đầy bất định
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam tháng 1/2026 ước đạt 1,68 tỷ USD, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước.
Còn theo số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), lũy kế đến ngày 31/1, nhà đầu tư Israel có 45 dự án có hiệu lực tại Việt Nam, tổng vốn hơn 155 triệu USD. Trong khi đó, Iran không nằm trong số 153 quốc gia và vùng lãnh thổ hiện có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, Cục Đầu tư nước ngoài cho biết, năm nay, triển vọng FDI toàn cầu được dự báo có phục hồi nhẹ nhưng đầy bất định. Tuy nhiên, đầu tư mới, mở rộng sản xuất nhiều khả năng vẫn trì trệ do sức ép từ căng thẳng địa chính trị, bất định chính sách và xu hướng phân mảnh kinh tế toàn cầu. Nếu không có những thay đổi để giảm bất ổn và tăng cường hợp tác quốc tế, dòng vốn đầu tư có nguy cơ tiếp tục tập trung vào một số ít khu vực và lĩnh vực, đặc biệt là công nghệ cao, thay vì tăng trưởng dàn trải.
Ở góc nhìn khác, PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân nhấn mạnh, đây cũng có thể là cơ hội để những quốc gia với môi trường chính trị ổn định như Việt Nam thu hút thêm dòng vốn đầu tư. Bởi, xung đột tại Trung Đông không đồng nghĩa với việc tiềm lực kinh tế của các bên tham gia lập tức suy giảm. Các nền kinh tế lớn vẫn sở hữu nguồn lực tài chính đáng kể và có xu hướng đa dạng hóa địa bàn đầu tư nhằm phân tán rủi ro.
Giữ đà thu hút đầu tư FDI trước biến động
“Nếu biết tận dụng, Việt Nam hoàn toàn có thể biến thách thức toàn cầu thành cơ hội cho mình. Khi điều kiện quốc tế thuận lợi trở lại, những quốc gia chuẩn bị tốt từ sớm sẽ có lợi thế trong thu hút dòng vốn và phân khúc du lịch chất lượng cao. Để chiếm trọn vị thế này, yêu cầu đặt ra hiện nay là đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, tăng cường kết nối với các đối tác chiến lược để giảm phụ thuộc vào một số thị trường nhất định”, PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng khẳng định.
Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Đại học Nguyễn Trãi nhấn mạnh, cần nhìn nhận một cách khách quan là Việt Nam đã tích lũy được kinh nghiệm điều hành qua nhiều giai đoạn biến động toàn cầu. Dự trữ ngoại hối được củng cố, cán cân thương mại duy trì tích cực, nợ công trong giới hạn kiểm soát và chính sách điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá linh hoạt tạo ra “vùng đệm” an toàn và quan trọng cho nền kinh tế hiện tại. Do đó, mức độ tác động phụ thuộc lớn vào thời gian và quy mô biến động quốc tế. Nếu căng thẳng được kiểm soát, ảnh hưởng có thể chỉ mang tính ngắn hạn. Nhưng nếu kéo dài, chính sách điều hành cần thận trọng và linh hoạt hơn để cân bằng giữa ổn định giá cả và duy trì tăng trưởng.
“Điều quan trọng không chỉ là phòng ngừa rủi ro, mà còn là chủ động nâng cao nội lực để thích ứng và dẫn dắt thay đổi”, ông Nguyễn Quang Huy khẳng định.
Tuy vậy, ông Nguyễn Quang Huy vẫn lưu ý, trước nguy cơ “cú sốc kép”, ba trụ cột chính sách cần được phát huy đồng bộ để Việt Nam thu hút thêm dòng vốn đầu tư. Thứ nhất, điều hành tiền tệ và tài khóa linh hoạt. Giữ ổn định kỳ vọng lạm phát là yếu tố then chốt. Phối hợp hài hòa giữa kiểm soát giá và hỗ trợ tăng trưởng sẽ giúp củng cố niềm tin thị trường. Thứ hai, chiến lược dự trữ và đa dạng hóa nguồn cung. Tăng cường dự trữ năng lượng hợp lý, mở rộng đối tác thương mại và giảm phụ thuộc vào một nguồn cung duy nhất là giải pháp giảm thiểu rủi ro hệ thống. Thứ ba, thúc đẩy chuyển đổi năng lượng và tiết kiệm hiệu quả. Đầu tư vào năng lượng tái tạo và nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng là bước đi dài hạn, giúp nền kinh tế giảm nhạy cảm với biến động bên ngoài.
Cùng chung nhận định này, PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng cho rằng, trong bối cảnh giá năng lượng chưa tăng quá mạnh, cần tính toán nâng mức dự trữ xăng dầu phù hợp, có thể thông qua các hợp đồng kỳ hạn hoặc công cụ phòng ngừa rủi ro giá, trên cơ sở phù hợp với quy định và năng lực tài chính. Đồng thời, cần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu năng lượng, giảm dần sự phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu. Thứ ba, đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu và thị trường nhập khẩu nhằm hạn chế rủi ro khi một khu vực xảy ra biến động.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần tăng cường tiết kiệm chi phí, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa sản xuất để giảm tác động từ biến động bên ngoài.
Thực tế, Việt Nam đã tích lũy nhiều kinh nghiệm trong việc ứng phó với đại dịch, đứt gãy chuỗi cung ứng và biến động thương mại toàn cầu thời gian qua. Vì vậy, nếu chủ động xây dựng các kịch bản ứng phó, tác động từ biến động giá năng lượng tuy có nhưng sẽ không đến mức quá nghiêm trọng.
Bên cạnh đó, yếu tố quyết định sức bền của nền kinh tế nằm ở năng lực nội sinh. Nâng cao năng suất lao động, phát triển công nghiệp hỗ trợ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tăng tỷ lệ nội địa hóa sản xuất sẽ giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu. Cải cách thể chế, tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu quả vận hành quản trị quốc gia cũng là trụ cột quan trọng.
“Một môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và thuận lợi không chỉ thu hút đầu tư mà còn tạo dư địa để doanh nghiệp phát triển bền vững”, ông Nguyễn Quang Huy nhấn mạnh.
