Nhiều trẻ em rơi vào suy thận mạn giai đoạn cuối, phải chạy thận nhân tạo kéo dài, đối mặt hàng loạt thách thức về sức khỏe, học tập và gánh nặng cho gia đình.
Bệnh nhi P.T.P (13 tuổi, ngụ tỉnh Vĩnh Long) suy thận giai đoạn cuối. Em chạy thận ở Bệnh viện Nhi Đồng 2 (TP.HCM) đã hơn một năm.
Theo người nhà bệnh nhi, khi 6 tuổi, bé được phẫu thuật do một đường tiểu thông xuống hậu môn, đường còn lại ra ngoài. Sau đó, bác sĩ phải mổ bàng quang ra da và bé phải mang túi dẫn lưu cho đến nay. Do không thể tiểu tiện bình thường trong thời gian dài, hai thận của bé dần teo lại và ngưng hoạt động, dẫn đến suy thận giai đoạn cuối.
“Do bệnh nền nặng và không có khả năng tiểu tiện, bé không thể ghép thận vì thận ghép cũng sẽ không hoạt động. Gia đình cũng chỉ biết cố gắng chăm lo cho sức khoẻ của bé từng ngày, biết bệnh tình của mình nhưng bé cũng rất nỗ lực và lạc quan”, người nhà bệnh nhi cho biết.
Bệnh nhi chạy thận tại Bệnh viện Nhi Đồng 2, TP.HCM.
Nguyên nhân trẻ mắc bệnh thận mạn
PGS.TS.BS Huỳnh Thị Vũ Quỳnh, Trưởng Khoa Thận - Nội tiết, Bệnh viện Nhi Đồng 2 cho biết, nguyên nhân suy thận mạn giai đoạn cuối ở trẻ em khác với người lớn.
Ở trẻ, nguyên nhân được chia làm hai nhóm chính. Nhóm thứ nhất là nguyên nhân bẩm sinh, bao gồm các bất thường xuất hiện ngay từ sau sinh như loạn sản thận, thiểu sản thận, chỉ có một thận, hoặc các bất thường đường tiết niệu như trào ngược bàng quang – niệu quản, van niệu đạo sau, bàng quang thần kinh. Nếu các bệnh lý này không được phát hiện và điều trị sớm, trẻ sẽ dần tiến triển đến suy thận mạn.
Nhóm nguyên nhân thứ hai là các bệnh lý cầu thận. Một số trẻ có bất thường gen gây ra bệnh cầu thận, điển hình như hội chứng thận hư do gen, việc điều trị chủ yếu mang tính triệu chứng và theo thời gian bệnh có thể tiến triển đến suy thận mạn giai đoạn cuối.
Ngoài ra, ở lứa tuổi lớn hơn, đặc biệt giai đoạn dậy thì, trẻ có thể mắc các bệnh cầu thận khác như lupus ban đỏ hệ thống. Nếu điều trị không hiệu quả hoặc không tuân thủ điều trị, các bệnh này cũng có thể dẫn đến suy thận mạn. Bên cạnh đó, tình trạng nhiễm trùng tiểu tái đi tái lại nhưng không được phát hiện và điều trị triệt để cũng là một nguyên nhân quan trọng.
“Trong nhóm bệnh nhi đang chạy thận nhân tạo tại khoa, lứa tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là từ 11–13 tuổi. Trẻ nhỏ khi phải chạy thận nhân tạo gặp rất nhiều khó khăn. Do phương pháp này chỉ thực hiện được tại bệnh viện, trẻ phải đến bệnh viện trung bình 3 ngày mỗi tuần, thậm chí có trường hợp phải chạy 4–5 ngày/tuần nếu bệnh nặng”, BS Quỳnh nói.
So với người lớn, điều trị suy thận mạn ở trẻ em có nhiều thách thức đặc thù. Trẻ vẫn đang trong giai đoạn tăng trưởng nên ngoài việc thay thế thận, bác sĩ còn phải đảm bảo dinh dưỡng và sự phát triển thể chất cho trẻ.
Nếu điều trị không tối ưu, trẻ dễ rơi vào suy dinh dưỡng, chậm lớn, giảm sức đề kháng và tăng nguy cơ nhiễm trùng. Bên cạnh đó, trẻ phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình trong việc điều trị, khiến cha mẹ phải hy sinh công việc và thời gian, lâu dài gây áp lực kinh tế.
Ngoài ra, do kích thước cơ thể nhỏ, nhiều thiết bị chạy thận chưa phù hợp cho trẻ rất nhỏ, đặc biệt là trẻ vài tháng tuổi, buộc bác sĩ phải lựa chọn các phương pháp khác. Việc tuân thủ điều trị cũng là một thách thức, nhất là ở lứa tuổi dậy thì, khi trẻ dễ quên uống thuốc hoặc không tuân thủ lịch tái khám nếu thiếu sự giám sát chặt chẽ từ gia đình.
Về tiên lượng lâu dài, bác sĩ cho biết trẻ chạy thận nhân tạo kéo dài có tiên lượng không tốt. Nếu duy trì chạy thận nhân tạo trong 10–20 năm mà không ghép thận, nguy cơ biến chứng nặng và tử vong là rất cao. Vì vậy, chạy thận nhân tạo chỉ được xem là giải pháp tạm thời, còn ghép thận sớm vẫn là hướng điều trị lâu dài và hiệu quả nhất cho trẻ suy thận mạn giai đoạn cuối.
Lưu ý của bác sĩ
Bác sĩ khuyến cáo, suy thận mạn ở trẻ em là bệnh diễn tiến âm thầm và rất dễ bị bỏ sót ở giai đoạn sớm. Nhiều trường hợp trẻ chỉ có các biểu hiện không đặc hiệu như da xanh xao nhẹ, mệt mỏi, chậm tăng cân, biếng ăn hoặc kém tập trung trong sinh hoạt hằng ngày.
Do các dấu hiệu này khá giống với tình trạng suy dinh dưỡng hoặc thiếu vi chất, không ít phụ huynh chủ quan, tự điều chỉnh chế độ ăn hoặc đưa trẻ đi khám dinh dưỡng mà không nghĩ đến bệnh lý thận, dẫn đến việc bỏ lỡ “thời điểm vàng” để phát hiện và can thiệp sớm.
Do đó, bác sĩ nhấn mạnh phụ huynh cần đặc biệt lưu ý những dấu hiệu bất thường kéo dài ở trẻ, chủ động đưa trẻ đến cơ sở y tế có chuyên khoa nhi – thận để được thăm khám, xét nghiệm kịp thời. Việc phát hiện sớm không chỉ giúp làm chậm tiến triển bệnh mà còn cải thiện đáng kể tiên lượng và chất lượng sống cho trẻ sau này.
Ngày đăng: 15:00 | 21/01/2026
Như Thuý / VTC News