Trong bối cảnh chuyển đổi số đang phát triển mạnh mẽ, việc đưa các hoạt động văn hóa lên môi trường số, đặc biệt là các lễ hội truyền thống, đã trở thành xu hướng tất yếu. Theo thông tin từ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Việt Nam hiện có hơn 8.000 lễ hội lớn nhỏ, trong đó phần lớn là lễ hội dân gian truyền thống, giữ vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng.

Mục tiêu của việc số hóa lễ hội là bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong không gian số, đồng thời hỗ trợ công tác quản lý nhà nước và tăng cường quảng bá văn hóa. Nhiều địa phương đã chủ động xây dựng cơ sở dữ liệu về lễ hội, tiến hành số hóa các tư liệu như hình ảnh, video, bài viết phục vụ công tác truyền thông. Từ vài năm trở lại đây, một số lễ hội tiêu biểu như Lễ hội Đền Hùng, Lễ hội chùa Bái Đính… đã ứng dụng các công nghệ như mã QR, livestream hay tour tham quan ảo 360 độ để giới thiệu và phục vụ du khách. Việc đưa vào ứng dụng công nghệ và các nền tảng truyền thông trực tuyến không chỉ giúp du khách tiếp cận thông tin thuận tiện hơn mà còn giảm tải cho lực lượng hướng dẫn trong mùa lễ hội cao điểm.

Không chỉ phục vụ mục tiêu quảng bá và bảo tồn, việc số hóa còn xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trong công tác quản lý lễ hội. Trên thực tế, nhiều lễ hội truyền thống thường phải đối mặt với những vấn đề như quá tải, chen lấn, cò mồi, thu chi thiếu minh bạch, rác thải gia tăng hay sự xuống cấp của không gian di tích. Trong bối cảnh đó, việc ứng dụng công nghệ, nếu được triển khai bài bản, đang trở thành giải pháp quan trọng giúp từng bước khắc phục những bất cập này. Nhờ các nền tảng số, ban tổ chức có thể theo dõi lượng khách, nhận diện thời điểm cao điểm để điều tiết phù hợp, đồng thời nâng cao tính minh bạch và chất lượng phục vụ tại các lễ hội.

Đơn cử như tại Yên Tử (Quảng Ninh) - vùng đất gắn với lịch sử Phật giáo Trúc Lâm và hành trình tu hành của Phật hoàng Trần Nhân Tông thì các giải pháp số đang được triển khai đồng thời với công tác bảo tồn di sản.

Theo ông Mai Vũ Tuấn, Trưởng Ban Quản lý di sản thế giới vịnh Hạ Long - Yên Tử, trong dịp Tết Bính Ngọ và Lễ khai hội Xuân năm nay, ban tổ chức đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong kiểm soát vé tham quan và vé cáp treo, qua đó góp phần giảm ùn tắc và minh bạch hóa dữ liệu. Ông cho biết, nếu trước đây việc quản lý khách ra vào khu di tích chủ yếu dựa vào vé, thì nay đã chuyển sang giám sát bằng camera AI để đếm lưu lượng người. Sau lễ hội, đơn vị dự kiến tiếp tục triển khai hình thức kiểm soát bằng căn cước công dân, cho phép du khách quét căn cước khi vào khu di tích. Việc đưa công nghệ vào giám sát và quản trị hệ thống kiểm soát người ra vào được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả vận hành, đồng thời tạo thuận lợi hơn cho du khách.

Tương tự, tại lễ hội Chùa Hương, xã Hương Sơn cũng đẩy mạnh đầu tư hạ tầng và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tổ chức, quản lý lễ hội. Ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Chủ tịch UBND xã Hương Sơn cho biết, trong thời gian diễn ra lễ hội, các hoạt động hành chính, tuyên truyền và chuyển đổi số được triển khai đồng bộ. Công tác điều hành, báo cáo, xử lý công việc được thực hiện trên hệ thống quản lý văn bản điện tử; thông tin về lễ hội cũng được truyền tải rộng rãi trên báo chí, phát thanh - truyền hình và các nền tảng số. Cùng với đó, việc áp dụng mã QR trong quản lý vé tham quan, vé đò thuyền, vận hành đường dây nóng tiếp nhận phản ánh của du khách, cũng như thu thập và phân tích dữ liệu lượng khách theo từng khung giờ cho thấy cách thức tổ chức lễ hội đang từng bước chuyển sang hướng hiện đại, minh bạch và lấy người dân, du khách làm trung tâm.

Dù mang lại nhiều lợi ích, quá trình số hóa và ứng dụng công nghệ vào hoạt động lễ hội cũng đặt ra không ít thách thức, đặc biệt là nguy cơ làm mai một tính nguyên gốc hoặc dẫn tới xu hướng thương mại hóa. Theo các chuyên gia, công nghệ nên đóng vai trò hỗ trợ trong quản lý và quảng bá, còn giá trị cốt lõi của lễ hội vẫn nằm ở đời sống văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng. Ở góc độ quản lý nhà nước, các địa phương cần xây dựng đội ngũ chuyên trách về công nghệ văn hóa để phối hợp với các nhà nghiên cứu, chuyên gia di sản lựa chọn giải pháp phù hợp với từng di tích và quy mô lễ hội. Điều này giúp việc ứng dụng công nghệ được triển khai đồng bộ, tránh tình trạng manh mún, thiếu hiệu quả.

Về lâu dài, số hóa lễ hội cần hướng tới mục tiêu hài hòa giữa đổi mới và bảo tồn. Công nghệ có thể giúp di sản trở nên dễ tiếp cận và minh bạch hơn, nhưng không làm phai nhạt những giá trị truyền thống và tính linh thiêng vốn là nền tảng của lễ hội Việt Nam.

Hồng Sơn (thoibaonganhang.vn)