Sáng qua, khi đi vào giờ cao điểm trên đường Nguyễn Trãi, tôi chứng kiến gần như đầy đủ những gì Hà Nội đang phải gánh.

Dòng xe máy, xe đạp, ô tô nối dài, xe buýt chật kín, tất cả len lỏi từng khoảng trống nhỏ để đi tiếp. Chỉ trong một đoạn đường không dài, có tới bảy trường đại học và học viện nằm san sát nhau. Mỗi trường vài chục nghìn sinh viên, và vào những khung giờ nhất định, tất cả cùng đổ ra đường cùng với luồng di chuyển từ ngoại ô vào nội đô.

Và Nguyễn Trãi cũng không phải là nơi duy nhất. Ở khu vực Hồ Tùng Mậu – Xuân Thủy – Cầu Giấy, một cụm đại học khác đang hoạt động với Đại học Thương mại, Đại học Quốc gia Hà Nội và Học viện Báo chí và Tuyên truyền.

Ở phía nam, các tuyến như Giải Phóng, Trần Đại Nghĩa, Lê Thanh Nghị hay Đại Cồ Việt vốn đã hẹp lại phải gánh thêm dòng xe máy khổng lồ đổ về các cổng trường vào giờ học. Giờ tan học của các trường gần như cũng là giờ tắc đường của cả khu.

Trong bối cảnh đó, Hà Nội đang xây dựng Quy hoạch Thủ đô thời kỳ 2021–2030 với tầm nhìn kéo dài tới 100 năm – một bản quy hoạch được kỳ vọng sẽ tổ chức lại toàn bộ không gian phát triển của thành phố từ hạ tầng, dân cư đến các trung tâm tri thức.

Trong bản quy hoạch này, việc di dời các trường đại học có diện tích nhỏ, cơ sở vật chất không đạt chuẩn ra khỏi nội đô được đặt ra như một hướng đi quan trọng – như một cách để Hà Nội sắp xếp lại không gian sống của chính mình.

Một chủ trương đã có từ lâu

Nếu lật lại các bản quy hoạch cũ, câu chuyện này không hề mới.

Từ năm 2007 rồi đến các quy hoạch năm 2011, Hà Nội đã nói đến việc giảm mật độ sinh viên trong nội đô xuống khoảng 30.000, đồng thời hình thành các cụm đại học tại Hòa Lạc, Sóc Sơn, Sơn Tây hay Gia Lâm. Danh sách các trường cần di dời thậm chí đã từng được nêu ra với hơn chục cơ sở đào tạo nằm trong diện phải tính toán lại không gian.

Thế nhưng sau hơn một thập kỷ, thực tế gần như không thay đổi đáng kể. Ngoại trừ một vài trường di chuyển cục bộ, phần lớn các trường vẫn ở lại nội đô, tiếp tục mở rộng quy mô đào tạo trong những khuôn viên vốn đã chật chội.

Chi phí là một rào cản rõ ràng, bởi xây dựng một khuôn viên đại học không chỉ là vài tòa giảng đường mà là cả một hệ sinh thái gồm ký túc xá, thư viện, phòng thí nghiệm và hạ tầng đô thị đi kèm. Cái khó hơn nằm ở chỗ suốt nhiều năm, chủ trương di dời tồn tại như một định hướng hơn là một yêu cầu có ràng buộc, không có lộ trình, không có chế tài, không có trách nhiệm cá nhân và đặc biệt là thiếu cơ chế đủ mạnh.

Áp lực đã tích tụ đến mức không thể bỏ qua

Trong khi việc di dời gần như đứng yên, quy mô sinh viên lại tăng đều theo từng năm. Hiện nay, Hà Nội có khoảng 650.000–700.000 sinh viên, phần lớn tập trung trong khu vực nội đô. Con số này đặt vào một hệ thống hạ tầng vốn đã quá tải tạo ra một áp lực không hề nhỏ.

Chỉ cần quan sát một chi tiết rất đời thường: Vào mùa hè, khi sinh viên nghỉ học, nhiều tuyến phố quanh các trường đại học bỗng “dễ thở” hơn hẳn. Điều đó cho thấy các cụm đại học không chỉ là nơi đào tạo mà còn là những điểm phát sinh lưu lượng giao thông rất lớn trong đô thị.

Dai hoc Quoc gia.jpg
Đại học Quốc gia Hà Nội ở Hoà Lạc

Có những trường đại học hiện chỉ có vài mét vuông trên mỗi sinh viên trong khi tiêu chuẩn tối thiểu là 25 m². Không gian học tập chật hẹp, thiếu khu thực hành, thiếu hạ tầng nghiên cứu – những điều này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo mà còn cho thấy mô hình “đại học trong lõi đô thị” đã đi đến giới hạn.

Các trường đại học lúc này không còn là chuyện riêng của ngành giáo dục nữa mà bắt đầu tác động trực tiếp đến cách đô thị vận hành mỗi ngày.

Một trường đại học nếu nhìn đúng nghĩa, không dừng ở những dãy giảng đường mà kéo theo cả một đời sống xung quanh nó – từ phòng trọ, quán ăn đến những công việc làm thêm của sinh viên.

Với nhiều sinh viên, học ở nội đô không chỉ là chuyện đến lớp mà còn là cơ hội tìm việc làm thêm để tự trang trải chi phí. Với giảng viên, đặc biệt là những người đã ổn định cuộc sống ở trung tâm, việc phải di chuyển hàng chục cây số mỗi ngày không phải là một thay đổi nhỏ.

Câu chuyện vì thế nằm ở chỗ, nơi đến có đủ điều kiện để người học và người dạy thực sự gắn bó hay không. Nếu không trả lời được câu hỏi đó, việc di dời sẽ vấp phải một lực cản rất tự nhiên đến từ chính những người trong cuộc.

Giải pháp: Phải làm thật

Trước hết, phải gọi đúng tên những trường cần di chuyển, kèm theo một lộ trình cụ thể. Khi đã có mốc thời gian rõ ràng và trách nhiệm gắn với từng cơ quan, câu chuyện sẽ không còn dừng ở mức “khuyến khích”.

Nhưng ngay cả khi có lộ trình, nếu nơi đến chưa sẵn sàng, mọi thứ vẫn sẽ dừng lại. Hòa Lạc là ví dụ rõ nhất. Một khu đại học được quy hoạch hàng nghìn hecta, nằm cạnh khu công nghệ cao nhưng suốt nhiều năm vẫn loay hoay vì thiếu hạ tầng kết nối và dịch vụ đi kèm. Nếu sinh viên vẫn phải chạy xe máy hàng chục cây số mỗi ngày, quanh khu học xá không có nhà ở, không có việc làm thêm, không có một đời sống đủ đầy thì rất khó để các trường rời bỏ trung tâm.

Giao thông vì thế trở thành điều kiện tiên quyết. Khi nào sinh viên có thể lên một chuyến metro từ nội đô và xuống ngay gần giảng đường, khi đó khoảng cách 30km mới thực sự được “rút ngắn”.

Bài toán tiền cũng không thể né tránh. Không trường nào có thể tự xoay xở hàng nghìn tỷ đồng để xây một khuôn viên hoàn chỉnh. Nếu không có một cơ chế tài chính đủ mạnh, trong đó Nhà nước đóng vai trò dẫn dắt và tạo “vốn mồi”, còn doanh nghiệp tham gia phát triển hạ tầng và dịch vụ thì kế hoạch di dời sẽ rất khó đi xa.

Và cuối cùng, là câu chuyện con người. Một giảng viên đã sống hàng chục năm trong nội đô sẽ không dễ dàng chuyển đi nếu không có nhà ở, trường học cho con, hay một môi trường sống tương đương. Một sinh viên cũng sẽ không chọn một nơi mà ở đó cơ hội làm thêm gần như bằng không.

Bài toán khó nhất nằm ở phần đất trong nội đô

Nhưng có lẽ câu hỏi khó nhất lại nằm ở phía sau: Quỹ đất của các trường đại học trong nội đô sẽ được sử dụng như thế nào sau khi di dời? Nhiều cơ sở đào tạo hiện nằm ở những vị trí đắc địa bậc nhất của Hà Nội. Giá trị của những khu đất này, nếu nhìn theo góc độ thị trường là rất lớn.

Nếu chuyển đổi thành các dự án bất động sản, thành phố có thể thu được nguồn lực đáng kể trong ngắn hạn. Nhưng cái giá đi kèm có thể là áp lực hạ tầng tiếp tục gia tăng, trong khi không gian công cộng – thứ Hà Nội đang thiếu lại không được cải thiện bao nhiêu.

Ngược lại, nếu quỹ đất được dành cho công viên, trường học, không gian sáng tạo hay các trung tâm nghiên cứu, giá trị mang lại sẽ không đến ngay lập tức, nhưng bền vững hơn nhiều.

Đằng sau câu chuyện quỹ đất là một lựa chọn rất cụ thể: Ưu tiên lợi ích ngắn hạn hay chấp nhận chậm lại để giữ những giá trị dài hạn cho thành phố.

Hà Nội có thể tiếp tục mở rộng ra bên ngoài với những khu đô thị mới nhưng những khoảng không gian trong lõi đô thị thì không thể tạo ra lần thứ hai.

Một ngày nào đó, nếu đi qua Nguyễn Trãi hay Giải Phóng mà không còn cảnh hàng vạn sinh viên cùng đổ ra đường vào giờ tan học, có lẽ khi ấy người ta mới cảm nhận rõ một quyết định quy hoạch đã âm thầm thay đổi thành phố như thế nào. Và khi đó, sẽ không còn chứng kiến cả thành phố là một bãi đỗ xe khổng lồ nữa.

Tư Giang (vietnamnet.vn)